Nông trại ở Aomori (phần 1) ・ 青森の農園(前編) — Thợ Rèn
Nhật ký hành trình ・ WWOOF ở Aomori紀行 ・ 青森のWWOOF

Nông trại ở Aomori青森の農園

Phần 1 — Một tuần làm việc ở nông trại dưới chân núi Iwaki: hai cha con, một tác phẩm mang tên 愛, và dòng nước bốn trăm năm chảy về phương Bắc.前編 ——— 岩木山の麓の農園で働いた一週間。父と子、「愛」と名づけられた作品、そして四百年、北へ流れ続ける水。

Nông trại một thoáng農園のあらまし
Khu nhà ở住居エリア rặng cẩm tú cầu紫陽花の並木 Vườn cây果樹園 4–5 ha ・ WWOOF ・ 1 tuần4〜5ヘクタール・WWOOF・一週間 Núi Iwaki岩木山
01

Hai người đàn ông giữ một mái nhàひとつ屋根を支える二人の男

Chuyến đi Hokkaido khởi đầu bằng những ngày làm việc ở nông trại theo chương trình WWOOF, và đó là một tuần trải nghiệm tuyệt vời. Nếu dư dả thời gian, chắc mình đã muốn WWOOF khắp các tỉnh, cơ mà đích cuối đã định nên không thể nấn ná mãi. Hokkaido mình đi gần một tháng, nên có một nhịp nghỉ, tạm dừng chạy xe, thì vừa đẹp. Nghĩ vậy nên bữa nọ, khi nằm trong lều ngắm sao bên bờ biển, mình liên lạc với một host WWOOF ở Aomori. Trong profile có cả phần làm đồ mộc — mà đi qua các công viên hay Tomita Farm ở Hokkaido, mình vẫn thấy người ta lấy những khúc gỗ tròn làm ghế, đồ thủ công cho farm cũng nhiều. Sau này về Việt Nam mình cũng tính tự tay làm ghế tre, chậu gỗ, hàng rào tre… Thành ra gặp được host này đúng là hợp thời điểm.

Yuya (勇哉さん) năm nay 30 tuổi, tuổi con chuột. Làm host WWOOF đã 8 năm — tính ra là từ năm 22 tuổi. Host các farm ở Nhật thường ngoài 40, nên ngoài ba mươi đã là trẻ, còn hai mươi thì hiếm. Yuya là host trẻ nhất.

Yuya là con một trong một gia đình ở Kanagawa. Bố Yuya kết hôn muộn, 48 tuổi mới sinh được cậu. Ông là Koichi (孝一), làm cho một công ty sản xuất linh kiện ô tô. Rồi bà của Yuya ốm, nằm liệt giường, ông Koichi chọn rời công ty để về Aomori chăm mẹ. Số tiền dành dụm, ông mua một mảnh đất chừng 4-5ha. Một năm sau, cả nhà chuyển từ Kanagawa lên Aomori.

Mẹ Yuya sức khỏe không tốt. Từ khi Yuya còn nhỏ, bà đã đi lại khó khăn, đến nay vẫn phải điều trị vật lý trị liệu hàng tuần. Mẹ ốm yếu, bố thì bận tự tay dựng nhà, trồng cây, làm mọi thứ cho farm, nên Yuya từ nhỏ đã quen phụ giúp. Hôm trước, thu xong mấy luống khoai tây, Yuya lượm ít củ nhỏ luộc rồi làm korokke. Mình buột miệng hỏi “Yuya học korokke từ bao giờ, từ ai?”. Yuya bảo từ hồi tiểu học, nhìn bố làm rồi học theo. Trong nhà có bóng dáng của người phụ nữ, nhưng việc nhà từ nhỏ đã là hai người đàn ông gánh vác.

Mấy năm trước, ông Koichi bị một cơn tai biến, nửa người yếu đi, một bên mắt nhìn không còn rõ. May là không nguy đến tính mạng, nhưng từ đó Yuya thành trụ cột. Một xe tải lớn, ba xe tải hạng nhẹ, một ô tô, mấy chiếc xe máy, máy cẩu, máy cày, máy cắt cỏ — giờ đều một tay Yuya. Sáng dậy sớm nấu ăn, trưa và tối làm vườn xong lại đứng bếp. Chắc lâu ngày quen tay, Yuya nấu các món một cách nhanh gọn. Báo chí Nhật dạo này hay nhắc chuyện đàn ông về hưu không quen việc nhà, lúng túng với chuyện bếp núc, dọn dẹp. Mình nói vui: “Yuya nấu giỏi vầy, sau này một mình hay hai mình cũng sống tốt nhỉ?”. Yuya cười: “Tớ biết nấu ăn, cơ mà không coi đó là một lợi thế”.

Việc nhà với Yuya không phải là lựa chọn, mà ở khía cạnh nào đó là hoàn cảnh đưa đẩy. Nhà con một thì việc gì cũng tới tay, ngoài công việc còn chăm sóc cho bố mẹ lớn tuổi, thành ra có những áp lực mà đôi khi Yuya cũng không nhận ra. Có một vài khoảnh khắc cậu cũng có những cuộc cãi vã nho nhỏ với bố mẹ. Mình như nhìn lại hình ảnh mình nhiều năm về trước. Chỉ khác, giờ mình không còn được ngồi cãi nhau với bố nữa, dù muốn hay không. Sau những lời qua lại nho nhỏ, lại là những tiếng cười của cả gia đình khi xem Sumo.

北海道の旅は、WWOOFの制度を使って農園で働く日々から始まった。あれは本当に得がたい一週間だった。もし時間に余裕があれば、道内のあちこちの農園でWWOOFをして回りたかった。けれど最終的な目的地はもう決まっていて、いつまでも足を止めているわけにはいかない。北海道だけでひと月近く走るつもりだったから、どこかでバイクを休め、一息つく区切りがあってもいい。そう考えていたある晩、海辺のテントに横たわって星を眺めながら、青森のWWOOFホストに連絡を取った。プロフィールには木工の項目もあった。北海道の公園やファーム富田を訪れるたび、丸太を輪切りにしただけの椅子や、農園ならではの手作りの品々をよく目にしていたからだ。ベトナムに帰ったら、竹の椅子や木の鉢、竹垣も自分の手で作ってみたいと思っている。このホストに出会えたのは、まさにいい頃合いだった。

勇哉さん(ゆうや)は今年三十歳、子年生まれ。WWOOFホストを始めてもう八年になる。日本の農園ホストは四十代以上が多いから、三十代でもまだ若いほうで、二十代となるとほとんどいない。勇哉さんは、いちばん若いホストなのだという。

勇哉さんは神奈川のある家庭の一人っ子だ。父親は結婚が遅く、四十八歳のときにようやく彼を授かった。父の名は孝一(こういち)。自動車部品を作る会社に勤めていた。やがて勇哉さんの祖母が病に倒れて寝たきりになると、孝一さんは会社を辞め、青森へ戻って母の世話をすることを選んだ。貯めていたお金で四、五ヘクタールほどの土地を買う。一年後、一家は神奈川から青森へ移り住んだ。

勇哉さんの母親はもともと体が丈夫ではない。勇哉さんが幼い頃からすでに歩くことに難儀していて、今でも毎週リハビリに通っている。母は病弱で、父は家を建て、木を植え、農園のすべてを一人でこなすのに忙しかった。だから勇哉さんは小さな頃から、自然と手伝いを覚えていった。先日、じゃがいもの収穫を終えたあと、勇哉さんは小さな芋をいくつか拾ってきて茹で、コロッケを作ってくれた。僕は思わず「コロッケはいつ、誰に習ったの」と尋ねた。小学生の頃、父の作る姿をただ見て覚えたのだと勇哉さんは答えた。家の中に女性の気配はあっても、家事は幼い頃からずっと、二人の男の肩にかかっていた。

数年前、孝一さんは脳卒中を患い、体の半身が弱り、片目もよく見えなくなった。命に関わるほどではなかったのが幸いだ。けれどそれ以来、勇哉さんが家の大黒柱になった。大型トラック一台、小型トラック三台、乗用車一台、バイク数台、クレーン車、トラクター、草刈り機。今ではすべて勇哉さんひとりの手にゆだねられている。朝は早起きして料理をし、昼と夜は畑仕事を終えるとまた台所に立つ。長年のことできっと手慣れているのだろう、勇哉さんは驚くほど手早く料理をこなす。日本のメディアは近ごろ、定年後の男性が家事に不慣れで、料理や片付けに戸惑う姿をよく取り上げる。僕は冗談めかして言った。「これだけ料理が上手なら、この先ひとりでもふたりでも、勇哉さんなら十分やっていけるね」。勇哉さんは笑って答えた。「料理はできるけど、それを自分の強みだとは思っていないよ」。

勇哉さんにとって家事は、選び取ったものというより、ある意味では境遇に押し出されてきたものだ。一人っ子の家では、何もかもが自分の手に回ってくる。仕事のほかに、年老いた両親の世話もある。だからこそ、勇哉さん自身も気づいていないような重圧が、どこかにあるのだと思う。両親と小さな言い合いになる瞬間も、たまにあるという。僕はそこに、何年も前の自分の姿を重ねて見た。ただ一つだけ違うのは、今の僕にはもう、父と言い争う機会さえ残されていないということだ。望んでも、望まなくても。小さな諍いのあとには、家族そろって相撲を見ながら笑う時間が、また戻ってくる。

02

Sợi dây vô hình見えない糸

Yuya học ở Canada và Mỹ sau đó về Nhật vừa làm nông vừa làm một số công việc khác. Mấy tấm biển treo trong trang trại — Caution, Stop — cậu ấy mua ở một tiệm đồ làm vườn bên Mỹ, nên không ghi tiếng Nhật mà ghi tiếng Anh. Có cái biển con mèo đen được dựng lên ở cửa ra vào, Yuya cũng tự tay sơn phết. Nền vàng, mèo đen beo béo bước đi ý chỉ ở farm này có mèo thường xuyên đi qua.

Farm chia làm hai khu. Khu nhà ở có kho, máy móc, dụng cụ, và trồng lai rai vài thứ: nho, pawpaw, hạt dẻ, blueberry, một ít rau ăn. Khu bên kia là vườn cây — kiwi, mơ (ume), mận, cherry, thêm luống hướng dương và một ít gobo — trong vườn còn nuôi một chú dê. Giữa hai khu là con đường chạy thẳng lên mấy trang trại táo trên. Từ nhà nhìn sang là vườn hoa quả, xa hơn nữa là núi Iwaki — ngọn núi cao nhất tỉnh Aomori.

Đường viền hai khu vườn men theo con đường cũng khá dài, đi bộ phải mấy trăm bước. Dọc đường là cẩm tú cầu (ajisai) nở tưng bừng. Aomori hình như nổi tiếng với loài hoa này — đi công viên, vào rừng, đâu cũng gặp. Nhưng dọc con đường số 200 thì rặng cẩm tú cầu ở farm của Yuya có lẽ là lớn nhất: cao hơn đầu người, dày lá dày hoa, mọc san sát chạy suốt con đường, chỉ chừa mỗi cái ngõ vào nhà. Người trong farm nhìn mỗi ngày nên chẳng thấy gì đặc biệt; người lạ đi qua mới thấy sự tồn tại của nó. Bữa mình vào lúc chiều tối, cả dãy hoa hiện lên, thật sự ấn tượng.

Ở mé khu vườn hoa quả có một cái đèn lồng đỏ treo lủng lẳng. Cạnh nó là một cái thang sơn màu trắng bạc, các nấc đóng đinh dày san sát. Hỏi ra, Yuya bảo đây là tác phẩm cậu ấy làm, chủ đề 愛 — tiếng Nhật nghĩa là tình yêu. Nguyên liệu nhặt từ biển, nên chi phí gần như bằng không.

Cái đèn lồng được xỏ bằng sợi cước câu cá. Ai từng đi câu đều biết: sợi cước nhỏ, trong suốt, nhưng chắc. Đứng xa chừng năm mét là không còn thấy nó nữa — chỉ thấy cái đèn lồng đỏ lơ lửng giữa chân không. Cái thang đứng ngay cạnh, thấp hơn đèn lồng một chút. Gió thổi qua, đèn lồng lắc lư — không đung đưa đều như con lắc, mà bị gió đưa đẩy, khi nghiêng về phía thang như sắp chạm vào, rồi lại giạt ra. Tưởng chạm tới nơi mà mãi không chạm, chỉ vì một sợi dây mỏng manh, vô hình. Màu đỏ ấy, cái lắc lư ấy, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Riêng Yuya đặt cho nó cái tên: 愛.

勇哉さんはカナダとアメリカで学び、その後日本に戻って、農業のかたわらいくつか別の仕事もしてきた。農園のあちこちに掛かる看板——Caution、Stop——はアメリカの園芸用品店で買ってきたもので、日本語ではなく英語で書かれている。玄関先に立てられた黒猫の看板も、勇哉さんが自分で塗ったものだ。黄色い地に、丸々とした黒猫が歩いている。この農園には猫がよく通るのだ、という印らしい。

農園は大きく二つの区画に分かれている。住居のある区画には倉庫や機械、道具があり、ぶどう、ポーポー、栗、ブルーベリー、それに少しの野菜などがまばらに植えられている。もう一方の区画は果樹園だ。キウイ、梅、すもも、さくらんぼ、それにひまわりの畝と少しのごぼう。ヤギも一頭飼われている。二つの区画の間には、上の方のりんご農園まで真っ直ぐに伸びる道が通っている。家から向かいを見れば果樹園が広がり、その先には岩木山——青森県で一番高い山——が見えた。

二つの区画を縁取るように延びるこの道は、歩けば数百歩はかかるほど長い。道沿いには紫陽花が咲き誇っている。青森はこの花で知られているようで、公園でも森の中でも、どこへ行っても目にする。けれど県道二百号線沿いでは、勇哉さんの農園の紫陽花の並木がおそらく一番大きい。背丈より高く、葉も花も密に茂り、道に沿ってびっしりと並び、家への入り口だけをかろうじて残している。農園で暮らす者たちは毎日目にしているせいで、何とも思わない。通りすがりの見知らぬ者にこそ、その存在の大きさが見えてくる。僕が訪れたのは夕暮れどきだった。花の並木がずらりと浮かび上がり、本当に見事だった。

果樹園の片隅に、赤い提灯がひとつ、ぶら下がっている。その傍らには、銀白色に塗られた梯子が立っていて、段には釘がびっしりと打ち込まれている。訊いてみると、勇哉さんが自分で作った作品で、テーマは「愛」だという。材料はすべて海岸で拾ってきたもので、費用はほとんどかかっていない。

提灯は釣り糸で吊るされている。釣りをしたことのある人なら知っているだろう。釣り糸は細く透明だが、丈夫だ。五メートルほど離れると、もう糸は見えなくなり、ただ赤い提灯だけが虚空に浮かんでいるように見える。梯子はそのすぐ横に立ち、提灯より少し低い。風が吹くと提灯は揺れる。振り子のように規則正しくではなく、風に押されるまま、梯子の方へ傾いてはあと少しで触れそうになり、また離れていく。触れそうで、決して触れない。ただ一本の、細く見えない糸のせいで。あの赤、あの揺らめき——それをどう受け取るかは、見る者次第だ。勇哉さんはただ、それに「愛」という名をつけた。

03

Tấm nệm dưa hấu và cái xe cứu hỏa tưới hoaスイカの座布団と、花に水をやる消防車

Hôm tới farm trời mưa lây rây. Yuya ra mở cửa cho mình đẩy chiếc cub vào phần hiên có mái trước nhà. Cởi áo mưa, bỏ mũ bảo hiểm xuống, mình mới kịp nhìn quanh — và đập vào mắt là hai món đồ lạ: một chiếc xe nâng và một chiếc xe cứu hỏa màu đỏ. Chiếc xe nâng bề ngoài chẳng có gì đặc biệt, giống mọi chiếc xe nâng khác, chỉ trừ cái nệm ghế: đỏ, viền xanh, lấm tấm hạt đen — nguyên một lát dưa hấu. Xe nâng vốn gợi cảm giác nặng nề của sắt thép và những thứ nó lê, nó kéo, vậy mà chỉ một lát dưa hấu đặt lên ghế, tự khắc cả cỗ máy trở nên hoạt hình. Ngày nào đi làm, mình cũng đổi từ dép sang ủng ở cửa, lách qua lối hẹp cạnh chiếc xe nâng, rồi nhìn cái nệm dưa hấu mà vô thức tủm tỉm cười.

Món thứ hai là chiếc xe cứu hỏa. Mình thấy lạ: một cái farm thì cần xe cứu hỏa làm gì? Ngày đầu mình hỏi, Yuya đáp tỉnh bơ: “Để dập cái nóng bỏng của những bông hoa”. Mình chẳng hiểu gì. Sau Yuya mới nói rõ. Đó là chiếc xe cứu hỏa cũ, mua từ Nagano. Trên thùng xe có sẵn ống dẫn nước, chỉ cần cấp nước lên là thành một bình tưới di động. Aomori mưa nhiều, một năm chắc chỉ dùng đến nó chừng hai chục giờ, nhưng ai bước vào nhà, thấy chiếc xe tải sơn màu đỏ mang vóc dáng của chiếc xe cứu hỏa nằm chễm chệ trước sân với ống dẫn nước, hẳn cũng phải tò mò. Hiếm thật, nên từng có đài truyền hình đã về tận đây để quay.

Thực ra farm còn nhiều cái lạ, ít nhất là với mình. Nhưng làm việc và quan sát ít ngày, mình thấy cũng chẳng lạ đến thế. Yuya khoác áo hoa văn Hawaii, xỏ dép lê, đội mũ phớt — chỉ thiếu điếu xì gà nữa là thành một bác nông dân kiểu Âu Mỹ, khác hẳn hình ảnh áo sơ vin xám xanh của mấy bác nông dân già ở vườn táo bên cạnh. Ở được một tuần, mình cũng không còn bất ngờ nếu bác Koichi, Yuya lôi từ nhà kho ra một cái bếp củi di động ống khói cao hai mét rưỡi, hay ngồi xe cắt cỏ xén cả luống hướng dương — không phải để lấy hạt, mà chỉ để farm có thêm chút màu nắng của mùa hè. Làm nông đúng là vất, cơ mà nhìn đâu cũng thấy có chỗ trống chừa cho những cái mới, cái lạ, không phân biệt quốc tịch của những ý tưởng đó đến từ đâu.

農園に着いた日は、小雨がぱらついていた。勇哉さんが扉を開けてくれて、僕はカブを家の前の、屋根のある軒先に押し入れた。レインコートを脱ぎ、ヘルメットを下ろす。そこでようやく、周りを見渡す余裕ができた。目に飛び込んできたのは、見慣れない二つのものだった。フォークリフトと、赤い消防車。フォークリフトそのものは、どこにでもあるものと変わらない。ただ、座席の座布団だけが違った。赤に、青の縁取り、黒い斑点。まるごと一切れの、スイカである。フォークリフトといえば鉄の塊で、引きずり運ぶものの重さを連想させる乗り物だ。それが、座席にスイカが一切れ乗っているだけで、機械ぜんたいが急に漫画のような顔つきになってしまう。毎朝仕事に出るとき、僕は玄関でサンダルから長靴に履き替え、フォークリフトの脇の狭い通路をすり抜けた。そしてそのたびに、スイカの座布団を見て、ひとりでにやにやしていた。

二つ目は消防車だ。農園に消防車が、いったい何の用があるのか。初日にそう尋ねると、勇哉さんは涼しい顔で答えた。「花の熱を消し止めるためさ」。何のことだか、さっぱり分からない。種明かしはあとで聞いた。長野で手に入れた古い消防車で、荷台にはもともと放水用のホースがついている。水さえ供給すれば、そのまま移動式の散水車になるという。青森は雨が多いから、実際に使うのは年に二十時間ほどだろう。それでも、庭先に堂々と鎮座する赤いトラック——消防車そのものの姿にホースまでついているのを見れば、誰だって気になる。あまりに珍しいので、以前テレビ局が取材に来たこともあるらしい。

実のところ、この農園には僕にとって珍しいものがまだたくさんある。けれど、しばらく働きながら眺めているうちに、それほど不思議でもなくなってきた。勇哉さんはハワイ柄のシャツを羽織り、サンダルを履き、中折れ帽をかぶっている。葉巻さえくわえれば、すっかり欧米風の農夫だ。隣のりんご農園にいる、灰色がかった作業着姿の年老いた農家たちとは、まるで違う。一週間もいれば、孝一さんや勇哉さんが倉庫から高さ二メートル半もある煙突つきの薪ストーブを引っ張り出してきても、もう驚かない。草刈り機に乗ってひまわりの畝ごと刈り取ってしまっても、驚かない。種を採るためではなく、ただ農園に夏の陽射しの色を足すためだけに、ひまわりは植えられているのだから。農業は確かに骨が折れる。それでも、どこを見ても、新しいもの、見慣れないものの入り込む余地がある。そのアイデアがどこの国から来たのかなど、誰も気にしない。

04

Lấy nước ở đền神社で水を汲む

Mỗi bữa ăn, Yuya mang ra một lọ nước chừng hai lít, để trong tủ lạnh cho mát. Yuya bảo hôm nào xong việc sớm thì lên núi lấy nước. Mình không hiểu lắm: “lên núi lấy nước” là đi vào một cái hồ nào đó múc nước mang về, hay đi tiệm thuốc lấy nước?

Ở Nhật, các tiệm thuốc thường đặt một cây nước lọc. Chỉ cần mua cái bình của họ là có thể lấy nước miễn phí. Hồi ở Kameyama mình cũng thấy mấy bạn xách can của tiệm thuốc về. Thành ra mình đinh ninh là đi lấy nước ở một tiệm nào đó, hoặc một nơi bán nước suối — vì nước này để uống, chứ không phải nước rửa tay.

Bữa nay cái máy cắt cỏ chạy hết công suất buổi sáng. Mình lái một vòng cắt cỏ quanh hàng nho. Cắt được nửa chừng thì máy đột nhiên dừng. Hóa ra hết xăng. Cũng vừa lúc gần xong, lại vừa tới giờ giải lao. Yuya lúc đó cũng vừa xong việc, bảo: hôm nay đi lên núi lấy nước. Thật ra mình khá tò mò. Cầm cái can trắng, leo lên chiếc bán tải hạng nhẹ, rồi cùng Yuya chạy về phía núi Iwaki.

Đến đoạn râm mát dưới bóng cây và bóng núi, có thêm một cổng Torii, Yuya bảo tới rồi. Mình hơi giật mình — nhìn quanh chẳng có cái hồ nào, cũng chẳng có tiệm nào cả. Trước cổng đền là một con suối nhỏ, dòng nước chảy ra từ một cái bể con, nước dẫn từ trên núi xuống. Yuya cầm cái can chừng hai lăm lít, hứng ngay miệng ống tre. Phía trên dòng nước, người ta đặt sẵn mấy cái gáo — giống hệt gáo ở các đền. Ai từng đi đền Nhật đều biết: trước khi vào bái lễ, người ta ghé bên phải đền, lấy gáo múc nước rửa tay và súc miệng.

Cạnh dòng suối có tấm biển ghi tên đền: Tokoshinai Haguro (十腰内羽黒神社). Bên dưới là một tấm biển gỗ nhỏ chép lại điển tích, mở đầu bằng một câu waka:

“Bốn trăm năm hưng thịnh của Haguro — dòng nước suối trong từ đá chảy mãi không cạn.”

Tương truyền khoảng bốn trăm năm trước — vào quãng đầu thời Edo — ông Sato Jinzaemon (佐藤甚左衛門), lý trưởng đương thời của làng Tokoshinai, đi hành hương đến đền Haguro thuộc Dewa Sanzan (Xuất Vũ Tam Sơn) ở Yamagata, một trong ba ngọn núi thiêng của tín ngưỡng Shugendo. Ở đó ông thấy nước thần (神水) của đền chảy về phương bắc. Về làng, ông nhận ra con suối hai mạch ở Tokoshinai cũng chảy về hướng bắc, và khi rửa mắt bằng nước ấy thì thấy mắt sáng rõ. Ông tin chắc đây là nước thần mà thần đã ban cho làng, nên dựng một am nhỏ, lập đền, lấy tên là Tokoshinai Haguro và thờ thần ở đó cho đến ngày nay.

Sau khi hứng đầy can, Yuya đưa mình một cái cốc nhựa trắng. Yuya cũng cầm một cốc, hứng nước từ suối, rồi cả hai ngồi xuống hàng gạch bên cạnh uống. Nước lạnh mát, làm thành cốc ngưng tụ hơi nước lấm tấm — giống lúc người ta cầm cốc kem. Nhìn cốc nước trong vắt, không một vẩn bẩn. Vị ngọt tự nhiên, không có mùi nước máy. Đến lúc này mình mới thật sự hiểu “lên núi lấy nước” là gì.

Nước hồ, sông suối ở Nhật sạch — điều đó mình biết, và đã từng trải nghiệm. Nhưng lấy nước từ suối về uống thì đây là lần đầu. Được uống trực tiếp từ dòng suối, cũng là lần đầu. Ngôi đền đứng đó bốn trăm năm canh giữ dòng nước. Yuya hằng tuần lên đây lấy nước. Người dân làng Tsuruta cũng lên đây lấy nước. Từ thuở chưa có can nhựa, người ta mang gàu gỗ, gàu tre. Cái câu chuyện tưởng chỉ có trong sách cũ, trong những trang thần thoại, lại là chuyện đời thường ở một ngôi làng vùng Aomori. Xe bán tải lăn bánh. Còn dòng nước vẫn tiếp tục chảy về phương Bắc.

食事のたびに、勇哉さんは二リットルほどの水の入った瓶を冷蔵庫から出してくる。仕事が早く終わった日は山へ水を汲みに行くのだ、と勇哉さんは言った。僕にはよく分からなかった。「山へ水を汲みに行く」というのは、どこかの湖に入って水をすくって帰ることなのか。それとも、薬局へ水をもらいに行くことなのか。

日本の薬局には、たいてい浄水器が置いてある。専用の容器さえ買えば、無料で水をもらえる仕組みだ。亀山にいた頃も、薬局の容器を提げて帰る人たちを何度か見かけた。だから僕は勝手に、どこかの店か、湧き水を売る場所へ汲みに行くのだろうと思い込んでいた。手を洗うための水ではなく、飲むための水なのだから。

その日は朝から、草刈り機を目一杯動かしていた。僕はぶどうの列の周りを一周、草を刈って回る。半分ほど終えたところで、機械が急に止まった。燃料切れだった。ちょうど作業も終わりかけで、休憩の時間にもなっていた。ちょうど仕事を終えた勇哉さんが、今日は山へ水を汲みに行こうと言う。正直なところ、僕はかなり興味をそそられていた。白いポリタンクを手に、軽トラックに乗り込み、勇哉さんとともに岩木山の方へ走った。

木陰と山陰の重なる涼しい一角に着くと、鳥居が見えてきて、勇哉さんが「着いたよ」と言った。僕は少し面食らった。見渡しても湖などどこにもないし、店らしきものもない。神社の鳥居の前には小さな沢があり、小さな水受けから水が流れ出ていた。山から引かれてきた水だ。勇哉さんは二十五リットルほどのポリタンクを手に、竹の樋の口にそのままあてがった。水の上には柄杓がいくつか置かれている。神社にあるものと全く同じ形だ。日本の神社を訪れたことのある人なら誰でも知っているだろう。参拝の前に、社殿の右手に立ち寄り、柄杓で水をすくって手を洗い、口をすすぐ習わしがあることを。

沢のそばには、神社の名を記した看板があった。十腰内羽黒神社(とこしないはぐろじんじゃ)。その下には、由緒を記した小さな木の札があり、和歌の一首から始まっていた。

よもとせに さかえし羽黒の永遠(とわ)に つきぬ岩清水

言い伝えによれば、およそ四百年前、江戸時代の初め頃のことだという。当時の十腰内村の名主であった佐藤甚左衛門(さとうじんざえもん)という人物が、山形の出羽三山にある羽黒神社へ参詣に出かけた。修験道の三霊山のひとつであるその地で、彼は神社の神水が北へ向かって流れているのを目にした。村へ戻った甚左衛門は、十腰内に湧く二筋の沢もまた北へ流れていることに気づく。そしてその水で目を洗ってみると、目がはっきりと見えるようになったという。これこそ神が村に授けた神水に違いない——そう確信した彼は、小さな祠を建てて神社とし、十腰内羽黒神社と名づけた。以来今日まで、その神はそこに祀られている。

タンクを満たし終えると、勇哉さんは僕に白いプラスチックのコップを手渡した。勇哉さん自身もコップを手に取り、沢の水をすくうと、二人並んで傍らの煉瓦の段に腰を下ろして飲んだ。冷たさにコップの表面がうっすらと結露する。アイスクリームのカップを持ったときのように。透き通った水には、濁りひとつない。自然な甘みがあって、水道水のような匂いは一切しない。このときになって、僕はようやく「山へ水を汲みに行く」ということの本当の意味を理解した。

日本の湖や川の水がきれいだということは、僕もすでに知っていたし、体験もしてきた。けれど、沢の水を汲んで持ち帰るのはこれが初めてだった。沢からじかに水を飲むのも、初めてだった。この神社は四百年ものあいだ、そこに立ち、この流れを守り続けてきた。勇哉さんは毎週ここへ水を汲みに来る。鶴田の村人たちも、ここへ水を汲みに来る。まだポリタンクなどなかった時代には、人々は木の桶や竹の桶を担いでここまで来ていたのだろう。古い書物の中、神話の頁の中にしかないと思っていたような話が、青森のある村では、ごくありふれた日常として今も続いている。軽トラックが走り出す。そして水は、今もなお、北へと流れ続けている。

鍛冶屋
Thợ Rèn ・ Nhật ký hành trình bằng Super Cub 110 ・ 鍛冶屋 ・ スーパーカブ110紀行 ・ thorenbook.com

Đăng ký tài khoản

Bạn đã có tài khoản?

Bằng việc tạo tài khoản, bạn đồng ý với Điều khoản Sử dụngChính sách Bảo mật của chúng tôi.

Đăng nhập vào tài khoản