Những người chọn con đường dài hơn ・ 遠回りを選んだ人たち — Thợ Rèn
HOKKAIDO ・ HỒ TŌYA → SAPPORO北海道 洞爺湖から札幌へ

Những người chọn con đường dài hơn遠回りを選んだ人たち

Mưa trên đèo, một chọi một trăm, và một cuộc gặp lại峠の雨、一対百、そして再会

01Con đường dài hơn遠回りの道

Đèo trong mưa, và con đường dài thêm hai mươi cây số雨の峠、二十キロ長い道

Sáng nay, ở chỗ rẽ rời hồ Tōya, mình chọn con đường dài hơn để về Sapporo.

Một hướng là quay lại lối cũ, đi lại đúng đoạn đường hôm qua đã đi. Hướng còn lại là một con đường mới: đi nốt nửa vòng hồ rồi mới rẽ nhánh về Sapporo. Dài hơn chừng hai mươi cây số, và băng qua núi. Mình chọn con đường thứ hai.

Vào giữa đoạn đường núi, mưa bắt đầu nặng hạt. Mình tạt vào lề mặc áo mưa. Ướt một chút — không nhiều, nhưng đủ để cái lạnh ngấm qua lớp áo, đủ để hai bàn tay ghì tay lái chặt hơn. Đi xe máy trời mưa khác với ngồi trong ô tô. Chỉ chạy một đoạn là nước đã che kín tấm kính mũ bảo hiểm. Như mọi khi, mình đưa tay trái vuốt một đường ngang trước mặt. Con đường sáng bừng trở lại.

Đường núi trời mưa cũng khá nguy hiểm. Đường trơn, lại có gió. Có một đoạn đổ dốc, gió tạt ngang mạnh đến mức mình phải bóp phanh gấp. Chiếc Cub khựng lại một nhịp. Đó là lần đầu mình phanh gấp trên đường núi. Hú hồn. May sau lưng không có xe nào. Chạy thêm một quãng, mình hít vào một hơi thật sâu, thầm cảm ơn ông bà đã đỡ cho.

Mưa và đường núi lấy mất của mình sự thong thả để ngắm cảnh. Đây không còn là đi chơi nữa, mà là di chuyển. Thành thật mà nói, con đường ấy chẳng đẹp. Cảnh hai bên không có gì để mà nhớ. Nếu đặt lên bàn cân một cách khách quan — thời gian mất thêm, cơn mưa, cú phanh gấp, khung cảnh nhạt nhòa — thì lựa chọn sáng nay của mình, có khi, còn có thể gọi là một thất bại.

Nhưng với sự ngang bướng và ít khi chịu nhận sai, mình chọn không nghĩ vậy.

Ngồi trên chiếc yên xe âm ẩm, cái ướt từ đó truyền vào người, mình ngẫm rằng một khi đã quyết định tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình, thì mười, mười lăm phút chạy thêm chẳng còn là chuyện gì lớn. Cái nặng chưa bao giờ nằm ở quãng đường. Nó nằm ở chỗ ta có nhận lấy con đường ấy như của mình hay không. Khi mình đã chọn thì mưa chỉ là mưa, dốc chỉ là dốc, gió chỉ là gió. Chúng thôi không còn là những lời trách móc gửi tới quyết định của mình. Chúng chỉ đơn giản là những gì con đường ấy vốn có, và mình đi qua chúng, chỉ vậy thôi.

Có lẽ một con đường không nhất thiết phải đẹp thì mới đáng đi. Con đường hôm nay chẳng cho mình cảnh sắc nào để khoe với ai. Nhưng nó cho mình chỗ này — chỗ để ngồi lại, để nghĩ, và để biết ra những điều mà một con đường bằng phẳng, quen thuộc, có lẽ sẽ chẳng bao giờ chịu nói cho mình hay.

今朝、洞爺湖を離れる分岐で、札幌へ戻るのに遠回りの道を選んだ。

一方は、昨日通った道を引き返す道。もう一方は、湖の残り半分をぐるりと回ってから札幌へ折れる、初めての道だ。二十キロほど長く、山を越える。ぼくは後者を選んだ。

山道の途中で、雨が本降りになった。路肩に寄せて雨具を着る。少し濡れた。たいしたことはない。けれど、冷たさが服の下までしみてくるくらいには濡れたし、両手がハンドルを強く握りしめるくらいには濡れていた。バイクは車と違う。少し走っただけで、ヘルメットのシールドは水に覆われてしまう。いつものように、左手で目の前を横に一度ぬぐう。道がぱっと明るくなる。

雨の山道はやはり危ない。路面は滑るし、風もある。下りのある区間で、横から吹きつける風があまりに強く、思わず急ブレーキを握った。カブが一拍、つんのめる。山道で急ブレーキをかけたのは初めてだった。ひやりとした。うしろに車がいなかったのが幸いだった。しばらく走ってから、深く息を吸って、ご先祖さまが守ってくれたのだと心のなかで礼を言った。

雨と山道は、景色を眺めるゆとりを奪っていく。これはもう旅ではなく、移動だ。正直に言えば、あの道は美しくなかった。両側の風景も、これといって記憶に残るものではない。客観的に秤にかけるなら——余分にかかった時間、雨、急ブレーキ、ぼんやりとした景色——今朝の選択は、失敗と呼んでもいいのかもしれない。

けれど、意地っ張りで、めったに非を認めないぼくは、そうは考えないことにした。

湿ったシートから伝わってくる冷たさを感じながら、こう思う。自分の選択の責任を自分で引き受けると決めたなら、十分や十五分よけいに走ることなど、たいした問題ではない。重さは距離にあったためしがない。それは、その道を自分のものとして引き受けるかどうかにある。自分で選んだのなら、雨はただの雨で、坂はただの坂、風はただの風だ。それらはもう、自分の決断への責めの言葉ではなくなる。ただ、その道がもともと持っていたものであり、ぼくはそこを通っていく。それだけのことだ。

道は、美しくなければ行く値打ちがない、というものでもないのだろう。今日の道は、人に見せられるような景色を何ひとつくれなかった。けれど、この場所をくれた。腰を下ろして考える場所を。そして、平らで見慣れた道ならきっと最後まで教えてくれないことを、知る場所を。

02Một chọi một trăm一対百

Một chiếc đi vào phố, cả trăm chiếc đi ra一台は街へ、百台は郊外へ

Hôm nay thứ bảy, ngày đầu của kỳ nghỉ ba ngày — thứ hai tới là Ngày của Biển, một trong những ngày lễ mùa hè của Nhật. Mình đi từ hồ Tōya về Sapporo, tức là đi vào nội thành.

Được một đoạn thì mình giật mình khi liếc gương chiếu hậu. Phía sau trống trơn. Chiếc Super Cub một mình băng băng trên làn đường của nó. Còn làn đối diện thì ô tô nối nhau san sát, cứ chừng mười lăm chiếc lại có một chiếc gắn giá nóc chở đồ cắm trại, chở thuyền, chở xe đạp. Bất giác mình nhoẻn miệng cười. Một chọi một trăm.

Nhìn kỹ biển số, mình mới nhận ra trong một trăm chiếc ấy có khi đến chín mươi chín chiếc mang biển Sapporo.

Ghé điểm dừng chân Bōyō Nakayama, mình đứng nhìn dòng xe ngược chiều ấy trôi qua. Ở quầy có dòng chữ: kem Hokkaido tươi ngon, chỉ ở đây mới ăn được. Dự toán hôm nay vốn đã hơi quá tay, vậy mà mình vẫn bỏ ra năm trăm yên mua một cốc. Ngon thì ngon thật. Nhưng vừa ăn mình vừa nhận ra chúng ta yếu mềm biết bao trước mấy chữ tạo cảm giác đặc biệt: bản giới hạn, chỉ hôm nay, chỉ lúc này, chỉ ở đây.

Vừa ăn kem vừa nhìn xe chạy, mình đoán ra lý do của cuộc chiến một chọi một trăm. Cuối tuần, người Sapporo được nghỉ, và họ lái xe ra ngoại thành. Từ Sapporo, chỉ bốn mươi đến chín mươi phút lái xe là có thể tỏa ra tứ phía: Otaru, Ishikari, Furano, hồ Tōya, hồ Shikotsu, Niseko, Shiraoi. Ở đó người ta cắm trại, tắm onsen, chèo thuyền trên hồ trên biển, hoặc đơn giản là lái xe rồi tạt vào một điểm dừng chân ăn cây kem mềm — vậy là đủ.

Nhờ đi ngược hướng với dòng người mê chơi mà mình nhận ra Hokkaido có một thứ khá quý: một không gian cho phép người ta bật và tắt cái công tắc giữa công việc và cuộc sống. Nếu chỉ mải làm thì sức khỏe và tinh thần bị bào mòn dần; còn nếu chỉ ở trong rừng thì đôi khi lại nhớ sự tiện lợi của phố. Chọn được một nơi mà cái công tắc ấy bật tắt dễ dàng, có lẽ là một quyết định hay ho.

Mấy tiếng sau, ngồi trong quán bia, mình sẽ nghe đúng điều đó từ miệng hai người bạn cũ.

今日は土曜日。三連休の初日だ。月曜は海の日、日本の夏の祝日のひとつにあたる。洞爺湖から札幌へ、つまり街のなかへ向かって走る。

しばらく走ってバックミラーを見て、はっとした。うしろには何もない。スーパーカブが一台、自分の車線を悠々と走っている。対向車線のほうは、車がびっしりと連なっていた。十五台に一台くらいの割合で、ルーフキャリアにキャンプ道具を積んだ車、ボートを載せた車、自転車を積んだ車が混じる。思わず口もとがゆるんだ。一対百だ。

ナンバープレートをよく見ると、その百台のうち九十九台までが札幌ナンバーだと気づく。

道の駅・望羊中山に寄って、その対向の流れが過ぎていくのをしばらく眺めた。売り場には、ここでしか食べられない北海道のおいしいソフトクリーム、と書いてある。今日の予算はすでに少しばかり超えているのに、それでも五百円出して一つ買った。うまいことはうまい。けれど食べながら、ぼくたちは特別さをつくる言葉にどれほど弱いのだろうと思った。限定、今日だけ、今だけ、ここだけ。

アイスをなめながら車の流れを見ているうちに、一対百の理由が見えてきた。週末、札幌の人たちは休みになると、車で郊外へ出ていく。札幌からなら四十分から九十分も走れば、四方へ散っていける。小樽、石狩、富良野、洞爺湖、支笏湖、ニセコ、白老。そこでキャンプをし、温泉に入り、湖や海でボートを漕ぐ。あるいは、ただ車を走らせて、道の駅でソフトクリームを一つ食べる。それで十分なのだ。

遊びに向かう流れと逆向きに走ったおかげで、北海道が持っているかなり貴重なものに気づいた。仕事と暮らしのあいだのスイッチを、入れたり切ったりできる空間だ。仕事ばかりしていれば、体も心もすり減っていく。かといって森のなかにばかりいれば、今度は街の便利さが恋しくなる。そのスイッチを軽く切り替えられる場所を選べたのなら、それはなかなかいい選択なのだと思う。

数時間後、ビヤホールで、ぼくはまさに同じことを二人の旧友の口から聞くことになる。

03Dân quê lên tỉnh田舎から町へ

Vào phố, với một chiếc xe chở đầy đồ荷を積んだまま、街へ入る

Vào nội thành như dân quê lên tỉnh. Nói vậy vì chiếc Cub cồng kềnh đồ đạc, không khác gì cảnh người nhà quê chở rau củ lên thành phố bán.

Có chỗ rẽ phải để tạt vào một quán ăn ven đường mà mình luống cuống, không biết lái thế nào cho phải. Lối rẽ ngang dọc cũng nhiều lên. Ở nơi này bắt buộc phải dùng Google Maps, sai một nhịp là phải chạy vòng vòng rất mất thời gian. Quán xá thì đi vài trăm mét là có, chỉ có điều cái quán mình muốn ăn lại nằm bên kia đường, muốn vào thì phải đi đường vòng. Đúng là thành phố. Sự tiện lợi luôn có sẵn, chỉ có điều để đến được với một sự tiện lợi thì những sự tiện lợi khác, vô tình hay cố ý, lại trở thành vật cản đường.

Giờ nhận phòng rider house hôm nay là sau ba giờ chiều, mà mình thì chỉ còn cách nơi nghỉ khoảng bảy cây số. Thành ra mình chọn một quán để ngồi giết thời gian. Mình chọn Yoshinoya. Lý do đơn giản lắm: gần, có bãi đậu xe, và giá hợp lý. Món thì vẫn là gyudon quen thuộc, thêm bát súp tonjiru.

Cũng phải nhiều năm nay mới quay lại Yoshinoya, và mình hơi bất ngờ. Giá tăng thì có, nhưng ở Nhật gần đây cái gì cũng tăng nên chuyện đó không lạ. Cái làm mình bất ngờ nhất là quán có drink bar. Một trăm sáu mươi hai yên đã gồm thuế, uống cà phê, ca cao, nước hoa quả, nóng lạnh tùy ý. Với một người chạy xe đường dài và đang phải căn giờ như mình thì cái menu ấy quả là tuyệt vời.

Sapporo hôm nay cũng khá nóng. Lần đầu tiên mình cởi áo khoác ra, để lên chiếc lồng phía trước, rồi chạy dọc con sông Toyohira về nhà nghỉ cho dân lái xe Nekojarashi.

街に入るのは、田舎者が町へ出るのに似ている。荷物で膨れあがったカブが、野菜を積んで町へ売りに行く人の姿とそっくりだからだ。

道沿いの店に入ろうと右に折れる場面で、どう曲がればいいのかまごついた。交差する道も増えてくる。ここではグーグルマップが手放せない。一つ拍子を外すと、ぐるりと回らされて時間を食う。店は数百メートルおきにあるのに、食べたい店にかぎって道の反対側にあり、入るには遠回りをしなければならない。まさに都会だ。便利さはいつでもそこにある。ただ、一つの便利さにたどり着くために、ほかの便利さが、意図してかせずしてか、道をふさぐ壁になる。

今日のライダーハウスのチェックインは三時以降。宿まではもう七キロほどしかない。そこで、時間をつぶす店に入ることにした。選んだのは吉野家だ。理由はごく単純で、近くて、駐車場があって、値段が手ごろだから。頼んだのはいつもの牛丼と、とん汁。

吉野家に入るのは何年ぶりだろう。少し驚いた。値上がりしていたことは驚いたうちに入らない。このところ日本では何もかも上がっているのだから。いちばん驚いたのはドリンクバーがあったことだ。税込百六十二円で、コーヒーもココアもジュースも、温かいのも冷たいのも好きなだけ飲める。長い距離を走り、時間の調整をしているぼくのような人間には、このメニューはじつにありがたい。

札幌は今日、けっこう暑い。初めて上着を脱ぎ、前のカゴに載せて、豊平川沿いを走り、ライダーハウス「ねこじゃらし」へ向かった。

04Gặp lại người bạn cũ sau chín tháng九か月ぶりに旧友と会う

Gạch đỏ, ngôi sao của thời khai khẩn, và bia赤レンガと開拓の星、そしてビール

Chuyến ghé Sapporo lần này khác với những nơi trước đó. Không phải gặp cảnh, mà là gặp người. Mà đã gặp người thì phải mò tới chỗ đông người.

Kenny và Kouchi là hai người bạn cùng công ty cũ. Năm ngoái cả hai chuyển việc lên Hokkaido, một phần vì công việc ở chỗ làm cũ nặng quá, một phần vì yêu Hokkaido. Riêng Kouchi, trước khi chuyển hẳn lên đây, hằng tháng đều bay từ Nagoya lên, lái xe đi quanh quanh, hít cái mùi không khí Hokkaido, ngắm đầm lầy ở Kushiro, ghé một quán ăn quen rồi lại quay về chỗ làm. Chắc nếu không có Hokkaido thì Kouchi cũng khó trụ nổi với cái lịch làm việc dày đặc từ sáng tới tối muộn, có hôm kim đồng hồ đã bước sang ngày hôm sau.

Tối nay Kouchi đi ăn với người yêu nên phải chín giờ rưỡi mới tới. Kenny thong thả hơn, hẹn mình ở tháp truyền hình Sapporo lúc bốn giờ rưỡi chiều.

Sapporo là thủ phủ của bia. Đi đâu cũng thấy bia. Ngay dưới chân tháp, cuối tuần người ta dựng những quán lắp ghép để mọi người ra giải khát mùa hè. Sang tuần có lễ hội bia kéo dài hơn một tháng, nhưng lúc đó mình không còn ở đây nữa. Kenny bảo đã tới Hokkaido thì không thể không tới Beer Garden. Chỗ ấy rộng, vậy mà không đặt trước thì thường không có chỗ. May thế nào mà hai đứa vớ được suất cuối cùng: thịt cừu nướng và bia uống thả ga.

Tòa nhà xây bằng gạch đỏ, những viên gạch xếp so le vào nhau để tạo độ bền. Bên ngoài người ta không trát vữa, cứ để nguyên màu gạch như vậy. Hỏi ra mới biết nó được dựng từ năm 1890, ban đầu là nhà máy đường, sau thành nhà máy mạch nha, mãi tới năm 1966 mới trở thành quán bia. Trên ống khói có ngôi sao đỏ — biểu tượng của Sở Khai thác Hokkaido ngày trước, nay thành biểu tượng của hãng bia.

Cái vẻ thô mộc ấy khác hẳn những khối bê tông, và chính nó lại tạo điểm nhấn cho Hokkaido. Đi trên đường phố, thi thoảng mọi người sẽ thấy những tòa nhà trông hơi là lạ, thường chỉ một gam hoặc trộn giữa ba gam màu: đỏ gạch, xanh rêu, xám nhạt. Hay gặp nhất là bảo tàng, nhà thờ, hoặc một khu nhà cũ. Những chỗ này mà ở Việt Nam thì có khi người ta đã kéo nhau tới chụp ảnh cưới. Nhưng ở Sapporo người ta chỉ ghé qua, vì quanh đây còn nhiều hàng quán. Người ta ngắm bằng con mắt, nhưng cái khiến người ta ngồi lại lâu, ở Hokkaido, vẫn là bia.

Mình gọi ba loại: Kuro Label, Classic và Yebisu. Classic thì chỉ Hokkaido mới có, đi khỏi đảo là không tìm ra. Bia tươi, có người rót tại chỗ, robot mang đồ ra. Khách đeo tạp dề giấy và bỏ túi xách vào một cái bao, vì mùi thịt nướng dễ bám. Bình thường chỗ này mình thấy nhiều khách Tây, nhưng bữa nay khách nội địa nhiều hơn.

Trong một không gian có thể chứa cả ngàn người, tụi mình ngồi ở góc gần giữa. Ánh sáng ấm hắt lên bức tường gạch đỏ nhạt, phía trên là khói bếp nướng. Năm phút đầu có nhân viên tới giải thích, còn lại thì gọi món bằng tablet và robot mang đồ ăn tới. Một cảm giác cổ cổ mùi thời gian, nhưng lại lẫn cả sự hiện đại. Rồi một ngày nào đó, ở những nơi khác, cảnh như thế này chắc cũng không còn là hiếm nữa.

Ngồi bên cốc bia tươi, Kenny kể chuyện từ hồi chuyển lên Hokkaido và cái project đang làm. Công việc nhẹ nhàng hơn, Kenny có thời gian ngồi uống cà phê và ngắm máy bay cất hạ cánh từ cửa sổ công ty. Đúng thật, khuôn mặt u tối hồi còn ở Kameyama nay đã tươi sáng hơn. Vẫn con người ấy thôi, nhưng đổi không gian một cái thì tiếng cười trở nên giòn và tự nhiên hơn hẳn.

今回の札幌は、これまでの土地とは少し違う。景色に会いに行くのではなく、人に会いに行く。人に会うとなれば、人の多いところへ出ていくしかない。

ケニーとコウチは、前の会社の同僚だ。去年、二人とも転職して北海道へ移った。前の職場の仕事が重すぎたこと、そして北海道が好きだったこと。その両方が理由だった。コウチにいたっては、こちらへ移る前から毎月のように名古屋から飛んできて、車であちこち走り、北海道の空気のにおいを吸い、釧路の湿原を眺め、行きつけの店に寄ってはまた職場へ戻っていた。北海道がなかったら、朝から夜遅くまで、日付が変わることさえある密な勤務に、とても耐えられなかっただろう。

今夜、コウチは恋人と食事があって、来られるのは九時半。ケニーはもう少しゆとりがあり、夕方四時半にさっぽろテレビ塔で待ち合わせた。

札幌はビールの都だ。どこへ行ってもビールがある。塔の足もとには、週末になると組み立て式の店が並び、人々が夏の喉を潤す。来週からはひと月以上続くビール祭りが始まるが、そのころにはもうここにはいない。ケニーが言う。北海道に来てビヤガーデンに行かないわけにはいかない、と。あれだけ広いのに、予約なしではたいてい席がない。運よく、二人で最後の一枠にもぐり込めた。ジンギスカンと、飲み放題のビール。

建物は赤レンガでできている。互いに食い違うように積み上げて、強度を出してある。外側にモルタルは塗らず、レンガの色をそのまま残してある。あとで知ったのだが、この建物は一八九〇年に製糖工場として建てられ、のちに製麦工場となり、一九六六年になってようやくビヤホールになったのだという。煙突には赤い星がある。かつての開拓使の印で、いまはビール会社の印になっている。

その素朴さは、コンクリートの塊とはまるで違う。そして、まさにそれが北海道の風景に印を刻んでいる。街を歩いていると、ときどき少し変わった建物に出会う。たいていは一色か、三つの色を混ぜたもの——レンガの赤、苔の緑、淡い灰色。多いのは博物館、教会、あるいは古い建物群だ。こういう場所がベトナムにあったなら、みんな連れ立って結婚写真を撮りに行ったかもしれない。けれど札幌では、人はちょっと立ち寄るだけだ。まわりに店がいくらでもあるから。目で眺めるのはたしかだが、人を長く座らせるものは、北海道ではやはりビールなのだ。

頼んだのは三種類。黒ラベル、クラシック、そしてヱビス。クラシックは北海道でしか飲めない。島を出れば手に入らない。生ビールはその場で注いでくれ、料理はロボットが運んでくる。客は紙のエプロンをつけ、鞄は袋にしまう。焼いた肉のにおいがつきやすいからだ。ふだんここは外国からの客が多い印象だったが、今日は国内の客のほうが多かった。

千人は入りそうな空間の、中央寄りの一角にぼくたちは座っていた。淡い赤レンガの壁に温かい光が当たり、その上を焼き台の煙が流れていく。最初の五分は店員が説明に来て、あとはタブレットで注文し、ロボットが料理を運ぶ。時間のにおいのする古めかしさのなかに、現代が混じっている。いつの日か、ほかの場所でも、こういう光景は珍しくなくなるのだろう。

生ビールを前に、ケニーは北海道に移ってからのことと、いま関わっているプロジェクトの話をした。仕事は前より軽くなり、コーヒーを飲みながら会社の窓から飛行機の離着陸を眺める時間もあるという。たしかに、亀山にいたころの暗い表情は、いまはずいぶん明るい。同じ人間なのに、空間が変わっただけで、笑い声が軽やかで自然なものになる。

05Cốc rượu mơ đánh tan cơn say bia梅酒の一杯がビールの酔いを醒ます

Khu phố mua sắm, đêm mưa, và một cốc rượu mơ雨の商店街と、梅酒の一杯

Mưa vẫn rơi nhưng không nặng hạt. Kouchi còn đang ăn với bạn, phải chín rưỡi mới tới tăng hai, nên mình và Kenny thong thả đi bộ dưới mưa tới khu phố mua sắm.

Thực ra ở Sapporo cũng như các thành phố lớn, người ta nhìn thấy xe và nhà mọc ở phía trên, nhưng ở dưới lòng đất còn có một khu phố khác, đi lại được cả một quãng dài, khi nào cần mới ngoi lên mặt đất. Chắc lâu ngày quên mất chuyện đó nên mình cứ cầm ô đi trong buổi tối lất phất mưa.

Sapporo là thành phố lớn, đến tận đêm khuya đèn vẫn sáng, xe vẫn chạy. Khu phố mua sắm đông người — chắc tại có mưa nên dòng người từ các nhánh khác cũng đổ về đây, vì dưới cái mái vòm cao chừng mười mét, người ta không cần ô mà vẫn đi bộ được.

Mình và Kenny ghé quán trước. Mình chọn một cốc Kuro Umeshu lạnh. Rượu mơ có vị ngọt ngọt, dễ uống. Bữa ở nông trại mình có đi thu hoạch mơ, và mình đoán người ta sẽ không thể làm ra rượu chỉ trong vài tuần, thành ra cốc rượu đang cầm trên tay ắt hẳn đã được ngâm từ chừng một năm trước. Lạ thay, uống rượu mơ vào mình lại thấy người tỉnh ra, chứ không ngà ngà như khi uống bia. Chắc cái vị chua lẫn ngọt kích thích vị giác, khiến người ta sảng khoái hơn.

Kouchi vào quán cùng cô bạn Sumi (鷲見). Kouchi khuôn mặt cũng sáng hơn, ăn mặc chỉn chu hơn. Kenny đi từ Chitose tới, Kouchi từ Kitami lên, còn Sumi thì ở ngay gần đây.

Có đôi ba câu chuyện về chỗ làm cũ, rồi sau đó mọi người nói về After 5 — chuyện sau năm giờ chiều. Ở Hokkaido, sau năm giờ trời còn sáng. Ai thích di chuyển thì tối thứ sáu đã có thể lái xe ra ngoại thành và dựng lều cắm trại ngay hôm đó. Cái công tắc mà mình nhìn thấy hồi trưa, trên dòng xe ngược chiều, hóa ra đang nằm trong tay mấy người bạn này.

Chắc khi thay đổi không gian, mọi thứ xung quanh cũng thay đổi thật nhiều — thay đổi theo cách ta là một phần trong đó và ta tự điều chỉnh để thích ứng.

Kenny phải về cho kịp chuyến tàu cuối nên mọi người chia tay. Ba người lên xe, đi về trong đêm mưa. Mình chạy dọc con đường ướt, nghĩ rằng hai người bạn của mình, cách đây một năm, cũng đã chọn một con đường dài hơn — bỏ chỗ quen để lên tận đây. Và họ đã nhận lấy con đường ấy như của mình.

Lúc mình về tới rider house, ba người khách khác đã ngủ.

雨はまだ降っていたが、強くはない。コウチはまだ友人と食事中で、二軒目に来られるのは九時半。だからぼくとケニーは、雨のなかをゆっくり歩いて商店街へ向かった。

札幌も、ほかの大きな街と同じで、地上には車と建物が見えるけれど、地下にはもう一つの街があって、かなりの距離を歩ける。必要になったときだけ地上へ出ればいい。しばらく来ないうちにそれを忘れていて、ぼくは霧のような雨の夜を、傘をさして歩いていた。

札幌は大きな街だから、夜更けまで明かりが消えず、車も走っている。商店街は人が多かった。雨のせいで、ほかの通りからも人が流れ込んできたのだろう。十メートルほどの高さのアーケードの下なら、傘なしで歩けるからだ。

ケニーと先に店に入り、ぼくは冷たい黒梅酒を頼んだ。梅酒は甘みがあって飲みやすい。農場にいたとき、梅の収穫を手伝った。数週間で酒になるはずもないから、いま手にしているこの一杯は、たぶん一年ほど前に漬けられたものだろう。不思議なもので、梅酒を飲むと、ビールのときのようにほろ酔いになるどころか、頭がすっきりしてくる。酸味と甘みが舌を刺激して、人を爽やかにさせるのかもしれない。

コウチが、鷲見さんという女性の友人と一緒に店に入ってきた。コウチも顔つきが明るくなり、身なりもきちんとしている。ケニーは千歳から、コウチは北見から、鷲見さんはすぐ近くから来た。

前の職場の話がいくつか出て、それからみんなでアフター5の話になった。五時以降の時間のことだ。北海道では、五時を過ぎてもまだ明るい。動くのが好きな人なら、金曜の夜のうちに郊外まで車を走らせて、その日のうちにテントを張ることができる。昼間、対向車線の流れのなかにぼくが見たあのスイッチは、じつはこの友人たちの手のなかにあったのだ。

空間が変わると、まわりのものもずいぶん変わるのだろう。自分がその一部となり、自分のほうも合わせて調整していく、そういう変わり方で。

ケニーは終電に間に合わせなければならず、そこで解散になった。三人はそれぞれ車に乗り、雨の夜のなかを帰っていく。濡れた道を走りながら、ぼくは思った。一年前、あの二人もまた、遠回りの道を選んだのだ。慣れた場所を離れて、こんな遠くまで来た。そして彼らは、その道を自分のものとして引き受けた。

ライダーハウスに戻ったとき、ほかの三人はもう眠っていた。

06 ・ Ghi bên lề — cho người đi sau06 ・ 道の余白に ― あとから行く人へ

Tōya → Sapporo qua đèo Nakayama (quốc lộ 230). Đỉnh đèo khoảng 835 m. Trời mưa thì đường trơn và có gió tạt ngang, nhất là ở các đoạn đổ dốc. Đi Cub nên giữ tốc độ thấp, tránh phanh trước khi vào cua, và tính dư ra 20–30 phút so với thời gian Google Maps báo.

Kính mũ bảo hiểm khi mưa. Không có gạt nước thì cứ chấp nhận vuốt tay. Đeo găng có mép gạt bên ngón trỏ trái sẽ đỡ hơn nhiều. Vuốt một đường ngang, đừng vuốt vòng tròn.

Michi-no-eki Bōyō Nakayama. Món nổi tiếng ở đây thực ra là age-imo — khoai tây tẩm bột chiên xiên que. Kem mềm cũng ngon. Chỗ này nằm ngay đỉnh đèo nên hay lộng gió, mặc thêm một lớp trước khi xuống dốc.

Cuối tuần và ngày lễ. Sáng thứ bảy, dòng xe từ Sapporo đổ ra ngoại thành rất đông. Nếu đi ngược chiều vào phố thì đường thoáng; còn nếu cùng chiều với họ thì nên xuất phát sớm hơn một tiếng.

Sapporo Beer Garden. Cuối tuần và mùa hè gần như phải đặt trước. Bia Classic chỉ bán ở Hokkaido. Tòa nhà gạch đỏ dựng năm 1890, ban đầu là nhà máy đường; ngôi sao đỏ trên ống khói là biểu tượng của Sở Khai thác Hokkaido. Nhớ bỏ túi xách vào bao chống ám mùi.

Đi bộ trong phố khi mưa. Sapporo có đường đi bộ ngầm nối từ ga xuống khu Ōdōri, cộng thêm các khu phố có mái vòm. Trời mưa thì cứ xuống lòng đất, khỏi cần ô.

Căn giờ check-in rider house. Phần lớn nhận phòng từ 3–5 giờ chiều. Nếu tới sớm, một quán ăn chuỗi có drink bar (khoảng 160–200 yên) là chỗ ngồi rẻ nhất để chờ, lại có bãi đậu xe.

洞爺湖から札幌へ、中山峠越え(国道230号)。峠の高さはおよそ八三五メートル。雨なら路面は滑り、とくに下りで横風が来る。カブなら速度を落とし、カーブの手前でブレーキを残さないこと。地図の所要時間に二、三十分を足しておくとよい。

雨のシールド。ワイパーはないのだから、手でぬぐうしかない。左の人差し指にワイパーのついた手袋があると、ずいぶん違う。横に一度、まっすぐ。円を描いてはいけない。

道の駅・望羊中山。名物はむしろ揚げいもだ。ソフトクリームもうまい。峠の頂にあるので風が強い。下りにかかるまえに、一枚重ねておくこと。

週末と祝日。土曜の朝は、札幌から郊外へ向かう車の流れがひどく濃い。逆向きに街へ入るなら道は空いている。同じ向きに走るなら、一時間早く出るとよい。

サッポロビール園。週末と夏は、ほぼ予約が要る。クラシックは北海道でしか飲めない。赤レンガの建物は一八九〇年、製糖工場として建てられたもの。煙突の赤い星は開拓使の印である。鞄は匂い袋に入れること。

雨の日の街歩き。札幌には駅から大通へ続く地下歩行空間があり、アーケードの商店街もある。雨なら地下へ降りればいい。傘は要らない。

ライダーハウスのチェックイン待ち。だいたい十五時から十七時。早く着いたら、ドリンクバーのあるチェーン店(百六十円ほど)がいちばん安い待合室になる。駐車場もある。

Hokkaido ・ Hành trình Super Cub
北海道 ・ スーパーカブの旅
Thợ Rèn ・ thorenbook.com

Đăng ký tài khoản

Bạn đã có tài khoản?

Bằng việc tạo tài khoản, bạn đồng ý với Điều khoản Sử dụngChính sách Bảo mật của chúng tôi.

Đăng nhập vào tài khoản