Nông trại ở Aomori / 青森の農園 (前編)
Nông trại ở Aomori (phần 1) ・ 青森の農園(前編) — Thợ Rèn Thợ Rèn ・ 26.07.27 Mục lục 目次 01Hai người đàn ông giữ một mái
Một buổi sáng mưa, khép lại vòng Hokkaido — từ Hakodate băng qua eo biển về Aomori, rồi ngược lên Tsuruta.雨の朝、北海道一周を閉じて。函館から海を渡り青森へ、そして鶴田町へ北上する。
Đêm qua, khi trời gần sáng, mưa bắt đầu rơi. Căn phòng vẫn để ngỏ cửa sổ vì trời hơi nóng. Mưa nặng hạt, nhưng mình không tỉnh hẳn, chỉ mơ màng biết rằng ngoài kia trời đang mưa, rồi cứ thế nằm cho tới tận sáu giờ sáng. Mọi khi mình thường dậy vào lúc bốn hoặc năm giờ. Nhưng bữa nay, vì mưa, và vì biết chỉ cần ra tới cảng lúc 10:30 là ổn, nên mình tự cho phép mình lười thêm một chút.
Căn phòng này nếu chật kín có khi chứa tới hai mươi người, vậy mà sáng nay chỉ có một mình mình. Nghe nói dạo gần đây người đi xe máy ít dần, nên khách của những rider house cũng thưa theo. Bác Sakashita (坂下) đã bảo mình như thế trong lúc ngồi trò chuyện tối qua.
Quần áo giặt đêm qua treo lủng lẳng khắp các góc nhà. Trừ cái quần dài phơi gần cửa sổ, còn lại đều đã khô.
Căn phòng tuy cũ nhưng có ti vi, giữa phòng kê một cái bàn và ba chiếc ghế — chỗ để những người lái xe (rider) ngồi trò chuyện với nhau. Mình bày ra bàn ít đồ ăn sáng: một cái bánh mì ngọt, hai nắm cơm onigiri và hai quả chuối. Bật ti vi xem dự báo thời tiết và mấy chương trình giải trí. Bữa nay đài phát một chương trình kiểm tra độ thính của tai — chẳng hạn nghe một bài hát rồi đoán xem có bao nhiêu loại nhạc cụ được sử dụng.
Vừa xem ti vi, mình vừa thu dọn đồ đạc rồi mang xuống chằng lên xe. Mưa cũng đã ngớt, nên khi mở thùng đồ của xe máy, bên trong không bị dính nước. Xếp mọi thứ gọn gàng xong, mình quay vào xem lại cuốn sổ lưu bút của những lữ khách từng ghé nơi này.
Khác với rider house ở thành phố Rumoi, ở đây số người viết ít hơn, và ai nấy đều viết theo thứ tự thời gian. Ở Rumoi thì người ta viết thẳng lên tường bằng bút — ai muốn viết nhiều hay ít, viết ở phòng ngủ, phòng trò chuyện, nhà bếp hay nhà tắm, tùy thích. Còn cuốn sổ ở đây tuy không bắt buộc viết theo thứ tự, nhưng ai nhìn vào cũng hiểu nên viết tiếp vào chỗ nào.
Điểm chung của những người để lại lưu bút là họ đều ghi lại loại xe mình đi: PCX 150, Serow 250, CB400SF, SR400, NC700… Chiếc xe như một trang tự giới thiệu bản thân.
Không chỉ có xe máy, trong số đó còn có cả xe đạp. Những con người ghé qua nơi này di chuyển với những tốc độ khác nhau, nhưng ngày qua ngày, họ đều trải lưng ngủ trên cùng một tấm chiếu.
Có cả một nhạc sĩ trẻ đã ghé đây tới lần thứ ba. Có người hai mươi chín năm sau mới quay lại. Có bạn sinh viên đến đây trong kỳ nghỉ hè cuối cùng của đời sinh viên.
Nghe tiếng mưa rơi ngoài kia, mình lấy cuốn sổ ra, mở một trang trắng và bắt đầu viết đôi dòng. Những dòng này là kỷ niệm của buổi sáng thanh bình rời Hokkaido, từ thành phố cảng Hakodate — khép lại hành trình vòng quanh Hokkaido và mở ra chặng đường mới ở vùng Đông Bắc (Tohoku) trên đảo Honshu.
昨夜、明け方近くになって雨が降り出した。少し蒸し暑かったので、部屋の窓はずっと開けたままにしてある。雨脚は強かったが、僕は完全には目を覚まさず、ただ外で雨が降っているのをぼんやりと感じながら、朝の六時までそのまま横になっていた。いつもなら四時か五時には目が覚める。けれど今朝は雨のせいもあり、港には十時半までに着けば問題ないと分かっていたから、少しくらい怠けてもいいと自分に許した。
この部屋は、満員になれば二十人ほど泊まれることもあるらしい。それが今朝は僕ひとりきりだ。最近はバイクで旅する人が減っているそうで、ライダーハウスを利用する人も少なくなっているという。昨夜、坂下さんと話していたときに、そう教えてくれた。
昨夜洗った服が、部屋のあちこちにぶら下がっている。窓際に干した長ズボンを除けば、どれもすっかり乾いていた。
部屋は古いけれどテレビはある。真ん中に机がひとつ、椅子が三脚。ライダーたちが座って語り合うための場所だ。僕は机の上に、菓子パンをひとつ、おにぎりをふたつ、バナナを二本、朝食を並べた。テレビをつけて天気予報とバラエティ番組を眺める。今朝は耳の良さを試す番組をやっていた。たとえば一曲聴いて、そこに何種類の楽器が使われているかを当てる、といった具合に。
テレビを見たり聞いたりしながら、僕は荷物をまとめ、下のバイクへ運んで積み込んだ。雨も少し弱まっていたので、バイクの荷箱を開けても中は濡れていなかった。荷物をきちんと積み終えると、この宿を訪れた旅人たちの記帳ノートを、もう一度めくりに戻った。
留萌の町のライダーハウスとは違って、ここに書き込む人は少ない。そして誰もが時系列の順に書いている。留萌では、壁とペンだった。たくさん書くのも、少しだけ書くのも、寝室に書くのも談話室に書くのも、台所でも風呂場でも、書きたい場所に書けばいい。ここのノートは順番どおりに書けと決められてはいないけれど、開けば誰でも、次はどこに書き継げばいいのか分かるようになっていた。
記帳した人たちに共通しているのは、みな自分の乗ってきたバイクの名を書き残していることだ。PCX150、セロー250、CB400SF、SR400、NC700……。その一台が、そのまま自己紹介の一頁になっている。
バイクばかりではない。中には自転車の人もいる。ここを通り過ぎていく者たちは、それぞれ違う速さで旅をしているけれど、日々、同じ一枚の畳に背を預けて眠っていくのだ。
若い作曲家が三度目にここを訪れた、という書き込みもあった。二十九年ぶりに戻ってきた人もいれば、学生最後の夏休みにやってきた大学生もいる。
外に降る雨の音を聞きながら、僕はノートを手に取り、白い頁を開いて、少しばかり書きはじめた。この数行は、港町・函館から穏やかな朝に北海道を離れる、その記念だ。北海道を一周する旅を閉じ、本州・東北地方をめぐる新しい旅が始まる、その節目の。
Mưa chưa dứt hẳn nhưng đã tới giờ xuất phát. Mặc áo mưa thì vướng víu, mà không mặc, đi giữa mưa lớn thì ướt. Mình đưa tay hứng thử mấy giọt để ước lượng lượng mưa và độ nặng của hạt, rồi nhẩm rằng quãng đường sáu cây số này chắc chưa đủ làm mình ướt. Cái quần jean xanh đủ dày, cái áo gió thì mau khô — chắc không sao. Mình giơ tay phải lên chào căn nhà trọ và dãy nhà gạch đỏ đối diện. Chào thân ái. Rồi lên đường.
Thật ra Hakodate khác với những nơi khác: người ta dậy sớm, quán cà phê cũng mở sớm. Mình đã tìm được quán Komeda gần cảng, nhưng vì trời mưa nên chẳng ra ngồi được. Bữa nào nắng ráo, nhất định mình sẽ ghé một hàng quán buổi sớm — hẳn sẽ là một cảm giác rất riêng, khác với những vùng khác ở Hokkaido.
Đi được chừng hai cây số thì tới một đoạn rẽ trái. Mình quặt vào khu nhà kho gạch đỏ Kanemori. Vẫn là những nhà kho cũ — giống hệt cái kho đứng lặng lẽ trước cửa rider house — nhưng ở đây, người ta đã trùng tu, khoác cho chúng lớp áo mới, biến cả dãy thành một khu du lịch với hàng quán và nhà hàng san sát. Cùng một thân phận nhà kho, mà đường đời đôi bên đã rẽ khác nhau đến vậy.
Đúng lúc ấy, mưa bỗng nặng hạt. Đang dừng chờ đèn đỏ mà mưa đã kịp làm cái áo ướt sũng. Mình vội tấp xe lên lề, ghé tạm vào dãy nhà có một quán cà phê mang tên Ý. May sao quán ấy có một mái hiên nhỏ, đủ để mình trú tạm mà khoác vội bộ áo mưa.
Mưa không ngớt, nhưng giờ tàu thì đã chốt. Mình dắt xe đi trong mưa rồi chạy ra cảng. Lại vướng phải một đoạn đường một chiều, thành ra phải chạy vòng thêm mấy trăm mét.
Ra tới cảng cũng không xa lắm. Mình gửi xe vào bãi rồi đi làm thủ tục. Cái áo ướt sũng đành phải cởi ra. Vẫn còn dư thời gian, mình đi loanh quanh cho đồ mau khô.
Phà Seikan mỗi ngày có tám chuyến, mỗi chiều chạy bốn tiếng. Một vài chuyến có chở vật liệu nguy hiểm nên lượng khách ít hơn. Mình chọn chuyến 11:35 → 15:25; tính ra cả tàu chỉ khoảng ba mươi khách. Trong đó có một bác đi CT125 — xe khác chiếc Super Cub 110 của mình, nhưng cùng một tinh thần rong ruổi lon ton, thong thả.
雨はまだ完全には止んでいないが、出発の時刻になった。雨具を着れば動きづらいし、着なければ大雨の中を走ってずぶ濡れになる。僕は手を差し出して雨粒をいくつか受け止め、雨の量と粒の大きさを確かめてから、この六キロほどの道のりなら濡れずにすむだろう、と見積もった。青いジーンズは十分に厚いし、ウインドブレーカーはすぐ乾く——たぶん大丈夫だ。僕は右手を上げて、泊まった宿と、向かいの赤煉瓦の家並みに挨拶した。さようなら。そして、道へ出た。
実のところ、函館はほかの土地とは違う。人々は早く起きるし、喫茶店も早くから開く。港の近くにコメダを見つけてあったのだが、雨のせいで立ち寄れなかった。今度晴れた日には、きっと朝早くから店に入ってみよう。それはきっと、北海道のほかの土地とは違う、特別な感覚になるはずだ。
二キロほど走ったところで、左へ折れる。金森の赤煉瓦倉庫街へと入っていく道だ。ここもまた古い倉庫だ——ゆうべ泊まったライダーハウスの前に、ひっそりと建っていたあの倉庫と変わらない。けれどこちらは丁寧に修復され、新しい装いをまとって、店やレストランの軒を連ねる観光地に生まれ変わっている。同じ倉庫の身でありながら、辿ってきた道はずいぶんと違う。
ちょうどそのとき、雨脚が強くなった。赤信号で止まっている間に、雨が上着をすっかり濡らしてしまう。僕は慌ててバイクを歩道の脇に寄せ、イタリアの名を掲げた喫茶店のある建物へと駆け込んだ。幸いその店には小さな庇があって、雨宿りをしながら雨具を羽織るには十分だった。
雨はやまないが、船の時刻はもう決まっている。僕は雨の中でバイクを押し、そのまま港へ走った。一方通行にも引っかかって、余計に何百メートルか回り道をするはめになった。
港まではさほど遠くもなかった。バイクを駐車場に預けて、手続きをする。ずぶ濡れの上着は脱ぐしかない。それでもまだ時間には余裕があったので、濡れたものを乾かすついでに、あたりをぶらぶらと歩いた。
青函フェリーは一日八便。片道四時間の航路だ。中には危険物を積む便もあって、その便は乗客が少ない。僕が選んだのは、十一時三十五分発・十五時二十五分着の便。数えてみれば乗客はせいぜい三十人ほど。その中に、CT125に乗った人がひとりいた。僕のスーパーカブ110とは車種こそ違うけれど、とことこと気ままに走る、同じ気分の小さな相棒だ。
Bước lên tàu, cuối cùng cũng thoát được cơn mưa. Nhưng vừa lên tới boong, mình chợt giật mình: chính con tàu này là thứ đang đưa mình rời khỏi cái nơi mà suốt bao ngày qua mình vẫn lon ton trên chiếc xe máy nhỏ. Bao nhiêu cảnh đẹp, từ đây đã thành kỷ niệm.
Tàu từ từ rời bến. Từ tầng ba nhìn lại, ngọn núi cứ mờ mờ ẩn hiện trong màn mưa bụi, mỗi lúc một xa. Ống khói con tàu nhả lên một cột khói đen kịt — ấy vậy mà sau làn khói ấy, vẫn là cả một Hokkaido tươi đẹp.
Từ Hakodate sang Aomori chỉ khoảng 120 km, nhưng tàu chạy tầm 30 km/h nên phải mất chừng bốn tiếng.
Gửi xe xong ở khoang dưới, mình leo lên khoang khách ở tầng hai và tầng ba. Trên này có một lò vi sóng, một máy bán hàng tự động bán mì Nissin, và một dãy phòng chung với mấy cái gối dài để ai muốn thì lấy ra gối đầu nằm nghỉ. Tầng ba kê mấy chiếc ghế cao và cái bàn như ở quán ăn — ngồi đó, vừa đọc sách vừa ngắm biển.
Có điều hôm nay dính mưa, nhiệt độ tụt xuống dưới hai mươi độ. Mình lại không mang áo ấm lên khoang khách, đành lấy tạm bộ áo mưa đã hong khô khoác chồng lên áo gió.
Bữa trước mình có mua ở AEON một cốc mì Nissin và một gói súp miến. Mình hứng nước nóng ở máy bán hàng tự động, chờ vài phút là cốc mì hoàn thành. Ngon thế. Bên ngoài lạnh mà cốc mì ấm nóng. Mình ăn một mạch, thấy thỏa mãn vô cùng.
Chợp mắt chừng hai mươi phút như một giấc trưa, rồi mình quay lại cái bàn, ngồi bên cạnh chiếc mũ bảo hiểm và bắt chuyện với bác Nakahara (中原). Bác là một kỹ sư máy tính đã về hưu, giờ rong ruổi vòng quanh nước Nhật. Đã ngoài sáu mươi lăm, từng cầm lái những chiếc phân khối lớn, nhưng lần này bác chọn chiếc CT125 thong dong — ba mươi lăm ngày, năm nghìn cây số, đủ để đi hết Hokkaido mà không vội.
Bác trải tấm bản đồ lên bàn, rồi lấy ngón tay rò theo từng đoạn đường đã đi qua. Tấm bản đồ mua ở một điểm dừng michi-no-eki, chi chít những nét mực đỏ, ghi cả số cây số lúc vào và lúc ra mỗi cung đường. Có những chỗ mực đỏ dày đặc — Shiretoko, Furano. “Chuyến này dính mưa,” bác bảo, “nên mấy chỗ ấy thành điểm dừng, để đi loanh quanh.”
Tóc bác đã bạc. Đôi bàn tay điểm những vết đồi mồi, gân nổi rõ theo tuổi. Vậy mà khi ngón tay ấy lần theo từng khúc đường vòng trên bản đồ, nó lại điêu luyện lạ thường — cứ như đang bẻ lái qua từng khúc cua thật. Và mỗi lần kể tới một đoạn đường, bác lại cười, cái cười của người đang được sống lại chuyến đi ngay giữa lúc kể.
Trong cuốn sổ của bác còn kẹp cả những tấm bản đồ từ mấy năm trước. Bác bảo chỉ cần đặt tấm năm nay cạnh tấm năm ngoái là sẽ tìm ra cung đường nào mình chưa từng đặt bánh xe. Bấy nhiêu tấm bản đồ đã tô kín đến thế, vậy mà bác vẫn cười: chuyến này bác chạy năm nghìn cây số, nhưng chỉ cần đổi cái tâm thế và đổi phương tiện thôi, thì Hokkaido chẳng bao giờ có điểm dừng. Rồi thế nào bác cũng sẽ quay trở lại.
Gần bốn tiếng lênh đênh, cuối cùng phà cũng cập bến. Mưa còn lất phất. Mình xuống tàu trong bộ áo mưa. Hai con người vừa mới trò chuyện với nhau, giờ hai chiếc xe đã rẽ về hai ngả. Bác Nakahara nghỉ lại gần cảng, còn mình chạy thêm bốn mươi cây số nữa về Tsuruta-machi (鶴田) để bắt đầu một hành trình mới.
Cái giá đỡ điện thoại bị lỏng đi trong chiều mưa. Mình vặn tạm lại cho nó bớt nghiêng ngả, rồi lên xe, đi về phía những vườn nho và táo.
船に乗り込むと、ようやく雨から逃れられた。けれど甲板に上がったとたん、僕ははっとした——この船こそが、来る日も来る日も小さなバイクでとことこ走りまわった、あの土地から僕を連れ去っていくものなのだ。あれほど数えきれない美しい景色が、もう思い出になっていく。
船はゆっくりと岸を離れていく。三階から振り返ると、山は霧雨の向こうにぼんやりと霞み、少しずつ遠ざかっていく。船の煙突は、真っ黒な煙をひとすじ吐き上げる——それでも、その煙の向こうには、あの美しい北海道が、まだ広がっているのだった。
函館から青森まではわずか百二十キロほど。けれど船は時速三十キロほどで進むので、着くまでにおよそ四時間かかる。
下の甲板にバイクを預けると、僕は二階と三階の客室へ上がった。ここには電子レンジと、日清のカップ麺を売る自動販売機、それに長い枕がいくつも置かれた雑魚寝の大部屋がある。三階には背の高い椅子と、食堂にあるようなテーブルが並び、腰かけて本を読みながら海を眺めることもできる。
ただ、今日は雨に降られて、気温は二十度を下回っていた。客室に暖かい上着を持ってきていなかった僕は、乾かしておいた雨具を、ウインドブレーカーの上から羽織ることにした。
先日イオンで、日清のカップ麺と春雨スープをひとつずつ買っておいた。自動販売機でお湯を注ぎ、数分待てばカップ麺のできあがりだ。うまい。外は寒いのに、カップの中は温かい。僕は一気にすすり込み、この上なく満ち足りた気持ちになった。
昼寝のつもりで二十分ほどまどろんでから、僕はまたテーブルに戻り、ヘルメットのそばに腰を下ろして、中原さんと言葉を交わした。中原さんは定年退職したコンピューター技師で、いまは日本中を旅してまわっているという。もう六十五を過ぎていて、かつては大型バイクを駆っていたが、今回はのんびりとしたCT125を選んだ。三十五日で五千キロ、急がずに北海道をひとめぐりするのに、ちょうどいい相棒だ。
中原さんは地図をテーブルに広げ、指先で、走ってきた道を一区間ずつなぞっていった。道の駅で買ったというその地図には、赤いインクの線がびっしりと引かれ、それぞれの道の入った地点と出た地点のキロ数まで書き込んである。とりわけ赤の濃いところがあった——知床、富良野。「今回は雨に降られてね」と中原さんは言う。「だからこのあたりは、腰を据えて、ぐるぐる回る場所になったんだ」。
髪はもう白い。手の甲には染みが浮き、年齢のぶんだけ筋が浮き出ている。それなのに、その指が地図の上のカーブをひとつひとつたどっていくさまは、驚くほど滑らかだった。まるで、いままさに一つひとつの角を曲がっているかのように。そして道の話にさしかかるたび、中原さんは笑った。語りながら、その旅をもう一度生きているような笑い方だった。
帳面には、何年も前の地図まで挟んであった。今年の一枚を去年の一枚の横に並べさえすれば、まだ走っていない道が見つかるのだ、と中原さんは言う。これほど何枚もの地図を隅々まで塗り尽くしてきた人なのに、それでも中原さんは笑ってこう言った。今回は五千キロを走るけれど、心の持ちようと乗り物さえ変えれば、北海道に終わりの地点なんてない。そしてきっと、また戻ってくるのだ、と。
四時間近い船旅の末、フェリーはようやく岸に着いた。雨はまだぱらついている。僕は雨具のまま船を降りた。たった今まで語り合っていた二人の、二台のバイクは、もうそれぞれ別の方向へ分かれていく。中原さんは港の近くで休んでいくという。僕はというと、そこからさらに四十キロ走って鶴田町へ向かい、新しい旅を始める。
雨の午後のあいだに、スマホのホルダーが緩んでしまっていた。僕はとりあえずそれを締め直し、傾かないようにしてから、またバイクにまたがって、葡萄と林檎の畑の広がるほうへと走り出した。
Nông trại ở Aomori (phần 1) ・ 青森の農園(前編) — Thợ Rèn Thợ Rèn ・ 26.07.27 Mục lục 目次 01Hai người đàn ông giữ một mái
Qua eo biển Tsugaru ・ 津軽海峡を越えて — Thợ Rèn Thợ Rèn ・ 26.07.22 Mục lục 目次 01Buổi sáng thư thảのんびりとした朝 02Dính mưa giữa đường道の途中で雨に降られて 03Thong
Natowa ・ なとわ — Thợ Rèn ⌂ Trang chủ⌂ ホーム Mục lục目次 01Thức giấc và lội suối 02Đi về phương nam 03Cung đường 278 04Natowa
⌂ Trang chủ⌂ ホーム Mục lục目次 01Con đường dài hơn 02Một chọi một trăm 03Dân quê lên tỉnh 04Gặp lại người bạn cũ
Hồ Ma Chu ・ 摩周湖という友 — Thợ Rèn ⌂ Trang chủ⌂ ホーム Mục lục目次 01Sợ quần áo bị cáo tha 02Hướng tới chân đèo 03Người
⌂ Trang chủ ⌂ ホーム Mục lục目次 Bát súp ấm của buổi sáng sớm Con sông Tokachi gần biển Ikeda-cho Mây ôm sóng
Bạn đã có tài khoản?
Bằng việc tạo tài khoản, bạn đồng ý với Điều khoản Sử dụng và Chính sách Bảo mật của chúng tôi.