Gặp gỡ chàng dân chơi tuổi 70 · 七十歳の伊達男
Gặp gỡ chàng dân chơi tuổi 70七十歳の伊達男Thợ Rèn
Nhật ký hành trình · Hokkaido旅日記 · 北海道

Gặp gỡ chàng dân chơi tuổi 70七十歳の伊達男

Sōunkyō → Mikuni Tōge → Nukabira · 08/07/2026層雲峡 → 三国峠 → 糠平 · 二〇二六年七月八日
鍛冶屋 · Thợ Rèn · thorenbook.com

Một ngày trên yên Super Cub, từ suối nước nóng trong mây đến câu chuyện của một người đàn ông bảy mươi tuổi.スーパーカブに跨った一日。雲の中の温泉から、七十歳の男の物語まで。

Memo 15–31Memo 15–31 8 chương全八章 Super Cub 90

Lộ trình trong ngàyその日の道のり

Kamuiカムイcông viên社公園
Kamikawa上川gương chiếu hậuパトカー
Sōunkyō層雲峡onsen温泉
Mikuni三国峠đỉnh đèo峠の頂
Nukabira糠平bãi trạiキャンプ場

Đã sống thì cứ sống, đừng nghĩ quá nhiều, cũng đừng hối hận quá nhiều.生きると決めたなら、生きること。あまり考えすぎず、あまり悔やみすぎないこと。

01
Chương 01第一章

Sáng sớm bên dòng sông川辺の早朝

Bờ sông · Rạng sáng 3h川辺 · 早朝三時
Lều bên sông, ngọn đèn và lũ sóc川辺のテント、灯り、そして栗鼠

Sáng nay thức dậy từ khoảng 3 giờ. Lũ chim mùa hè dậy sớm, mà cái lều cắm trại cũng chẳng cách âm được là bao, thành ra tiếng báo thức trong điện thoại gần như không còn cần thiết.

Bữa sáng, nhìn mấy con sóc bé tí tì ti chạy lon ton lại phía quầy rửa — chỗ có mấy cái vòi nước cho khách tới chơi ở công viên — mình lôi cuốn nhật ký ra viết. Ngó sang, thấy cái lều của mình còn hé hé cái cửa: bên ngoài mấy con sóc nhảy tách tách, bên trong còn mấy quả chuối và một ít natto chưa ăn. Mình vội chạy lại siết cái khóa lều, rồi ra ngồi ở khu bàn gỗ giữa công viên.

Cái trại nằm ngay cạnh dòng sông. Nhiều cây, nhiều bãi cỏ xanh. So với hôm qua thì khu này đông khách hơn — có tới vài chục người. Chỉ cần có bóng người thôi, cái cảm giác lang thang trên những cung đường đẹp này đã dễ chịu hơn nhiều.

今朝は三時ごろに目が覚めた。夏の鳥たちは朝が早く、キャンプ用のテントも大して防音などしてくれないから、携帯の目覚ましなど、もう要らないくらいだ。

朝食どき、小さな栗鼠たちがちょろちょろと洗い場のほうへ駆けていくのを眺めながら——公園を訪れる人のための水道が並ぶ、あの一角だ——僕は日記帳を取り出して書きはじめる。ふと目をやると、自分のテントの入り口が、まだ半分開いたままになっている。外では栗鼠が二、三匹ぴょんぴょんと跳ね、中にはまだ食べていないバナナが幾つかと、少しの納豆が残っている。慌てて駆け戻り、テントの鍵を締めてから、公園の真ん中の木のテーブルへ移って腰を下ろした。

キャンプ場は、ちょうど川のすぐそばにある。木が多く、青い芝生が広がっている。昨日にくらべると、今日はこの一帯も人が多い——数十人はいるだろうか。人の姿があるというだけで、この美しい道をあてどなくさすらう心地が、ずいぶんと和らぐ。

02
Chương 02第二章

Một buổi sáng thong thả, và anh bạn người Bỉのんびりとした朝、そしてベルギーのサイクリスト

Công viên Kamui · Buổi sángカムイの社公園 · 朝

Ngày hôm qua mình dọn trại và đi trong sự thong thả. Phải 9 giờ mới xuất phát khỏi công viên Kamui (カムイの社公園). Trước đó dọn hành lý xong thấy người hơi nhớp nháp, đành thay đồ rồi lấy khăn ướt lau qua. Cái chai nước 2 lít mua hôm trước uống mãi không hết; e ngại phí của, mình làm một mạch — uống vội đến mức nước còn sánh cả xuống vạt áo. Nhưng sau đó thì phải chạy đi vệ sinh mấy lần.

Buổi sớm, có mấy bác lớn tuổi lái máy cắt cỏ đi qua công viên. Ít người trung niên chạy bộ, dắt chó đi dạo. Hôm nay có trận World Cup vòng 1/8 giữa Mỹ và Bỉ. Thomas là người Bỉ, cậu bảo nhất định phải xem cho được. Mình chỉ cho Thomas khu Komeda trong thành phố — chỉ cách 2–3 km mà có wifi, có đồ uống và cả đồ ăn sáng. Xem xong rồi đạp xe lên Asahidake là vừa đẹp.

昨日は、のんびりとテントを畳んで発った。カムイの社公園を出たのは、九時をまわってからだ。荷物をまとめ終えると体がなんだか湿っぽくて、着替えて、濡れタオルでざっと拭った。前の日に買った二リットルの水が、どうしても飲みきれず、もったいないからと一気に呷ったら、勢い余って襟元まで零してしまった。もっとも、そのあと何度も手洗いに走る羽目になったのだが。

早朝、年配の方々が芝刈り機に乗って公園を通っていく。ジョギングをしたり、犬を散歩させたりする中年の人も、ちらほら。今日はワールドカップのベスト16、アメリカ対ベルギーの試合がある。トーマスはベルギー人で、これはどうしても観なくては、と言う。僕は町なかのコメダを教えてやった——ほんの二、三キロの距離なのに、wifi があって、飲み物も朝食もある。観終えたら、自転車で旭岳まで登れば、ちょうどいい。

03
Chương 03第三章

Lên đường về phía Mikuni三国へ向けて発つ

Vào núi · Giữa trưa山へ · 昼

Mình chằng lại thùng đồ, gắn tờ giấy ghi "日本一周中" cùng lá cờ Việt – Nhật lên xe, rồi bắt đầu xuất phát. Hôm qua đã đổ xăng và mua sẵn một lít dự phòng, thành ra bước đi vô cùng thoải mái. Đường không quá phức tạp, nhưng mấy cung đường trong thành phố khiến mình đi sai đường mãi mấy lần. Cho tới khi vào núi thì mới có một lối thẳng tắp — con đường này thực ra chẳng cần đến navigator. Có đoạn, một cây xăng khiến mình nhớ tới ngày tuyết dày tháng 5 năm ngoái, khi mình xuất phát từ Asahikawa vượt ngang Mikuni Tōge.

Đường xá ở đây dài và rộng, mà cũng không đến nỗi đông đúc; nhất là những cung đường dẫn lên các điểm tham quan đẹp — đi một lần là nhớ, đi hai lần đã thấy như từng đi qua.

僕は荷箱を括りつけ、「日本一周中」と記した紙と、ベトナム・日本の小旗を車体に取りつけて、いよいよ出発した。昨日のうちに給油も済ませ、予備に一リットルも買ってあったから、足取りはこのうえなく軽い。道はさほど複雑でもないのに、街なかの道で何度も曲がり損ねた。山に入って、ようやく一本の真っ直ぐな道になる——この道なら、ナビなどいらないくらいだ。途中、一軒のガソリンスタンドが、去年の五月の雪深い日を思い出させた。旭川を発って、三国峠を越えた、あの日を。

ここの道は長く、広く、それでいてさほど混んでもいない。とりわけ美しい景勝地へ登っていく道は——一度通れば忘れられず、二度目には、もう懐かしくさえある。

04
Chương 04第四章

Xe cảnh sát lon ton sau xe máyパトカーを従えて、とことこと

Kamikawa · Trưa上川 · 昼下がり

Cung đường này nhiều xe ô tô, và cả xe máy chạy khám phá Hokkaido. Thi thoảng có xe mô-tô phân khối lớn chạy ngang; họ cũng vẫy tay chào nhau, như một cách giúp nhau giãn gân cốt và xua đi cơn buồn ngủ.

Cũng vẫn cung đường ấy, nhưng chuyến đi lần này là mùa hạ. Cây xanh mọc hai bên đường, nước suối nước sông chảy róc rách. Phải đi một quãng xa mới thấy bóng một nếp nhà. Vẫn nơi ấy thôi, mà đi xa rồi quay trở lại, người ta lại thấy trong lòng thật nhiều tâm tình.

Đường Hokkaido vắng. Dài và rộng. Có những khúc cắm biển giới hạn 50 km/h, nhưng xe ô tô ở đây chạy 80–100 km/h là chuyện không hiếm. Đi đến Kamikawachō, mình liếc qua gương chiếu hậu thì thấy có xe cảnh sát. Bình thường chiếc Cub của mình muốn chạy nhanh cũng chỉ được 60 km/h, thành ra thường xuyên bị xe khác vượt.

Chuyến đi lần này mình đặt cho cái tên "Hành trình lon ton trên đất Nhật", với ý nghĩ sau chuyến này mình sẽ thành chuyên gia (pro) trong lĩnh vực "không vội vàng". Thế nên, nhìn chiếc xe cảnh sát đen trắng có cái đèn đỏ nhấp nháy trên nóc, mình chỉ tủm tỉm cười. Cười, vì xe phía sau sẽ chẳng dám vượt xe cảnh sát. Còn mình thì cứ ung dung đi trước dẫn đường suốt hơn chục cây số, cho tới khi xe cảnh sát rẽ sang hướng khác — còn mình thì hướng về đỉnh Tam Quốc (三国 – Mikuni).

この道は車も多いし、北海道を巡るバイクも多い。ときおり大型のバイクが追い越していく。彼らもまた、手を振ってくれる——たがいに凝りをほぐし、眠気を払うためのようなものだ。

同じ道でも、今度の旅は夏だ。道の両脇には緑が茂り、沢の水も川の水も、さらさらと流れている。しばらく走らなければ、人家の影ひとつ見えない。同じ場所でも、遠く離れてまた戻ってくると、人は胸の内に、ずいぶんと多くの想いを抱くものだ。

北海道の道は空いている。長く、広い。制限速度五十キロの標識が立つ区間もあるが、ここでは車が八十から百キロで走るのも、珍しくない。上川町にさしかかったところで、バックミラーをちらと見ると、パトカーがいる。ふだん、僕のカブは飛ばしたところで六十キロがせいぜいで、しょっちゅう他の車に抜かれてばかりだ。

今度の旅に、僕は「日本とことこ一周」という名をつけた。この旅を終えるころには、「急がない」という分野の専門家(プロ)になっているだろう——そんな心づもりで。だから、赤いランプを屋根で点滅させた白黒のパトカーを目にしても、僕はただ、くすりと笑った。笑ったのは、後ろの車が、パトカーを追い越そうとはしないからだ。かくして僕は、悠々と先頭を走って十数キロも道案内を務め、やがてパトカーが別の方向へ折れていくまで——僕はといえば、三国(ミクニ)の峠を目指した。

05
Chương 05第五章

Ăn Buta-Don (ぶた丼) và tắm ở 黒岳 – Kurodakeぶた丼と、黒岳の湯

Sōunkyō Onsen · Giữa trưa層雲峡温泉 · 昼
Suối nước nóng và "hoa của suối" — 湯の花温泉と、湯の花

Đỉnh Asahidake kéo dài sang phía đối diện là Kurodake. Khu này cũng là thắng cảnh, và có suối nước nóng. Cũng vừa lúc giữa trưa, thấy dòng chữ 層雲峡温泉 (Sōunkyō Onsen), mình cho chiếc Cub tạt vào, bắt đầu khám phá khu phố nhỏ giữa vùng sơn cước.

Phải công nhận người Nhật họ làm được những khu du lịch đẹp thật. Ngoài cảnh đẹp, suối nước nóng chắc chắn là điểm nhấn của những vùng xa lắc xa lơ này. Gọi là "khu phố nhỏ vùng sơn cước" vì nhà cửa chẳng có mấy: chỉ ít khách sạn lớn, một nhà ga ropeway, dăm quán ăn, và cả một vọng gác của cảnh sát. Nhìn sang bên kia là ngọn núi dựng đứng.

Mình ghé một quán ăn, gọi món butadon — giá 1100 ¥. Thấy tấm biển ghi: tắm onsen Kurodake sẽ được giảm 200 ¥, từ 800 ¥ xuống còn 600 ¥. Mình chọn cả hai. Tự dưng vừa được ăn ngon, vừa được tắm suối xịn, mà lại còn được giảm giá.

Cái cảm giác được lời 200 ¥ ấy, thích thật.

Suối ở đây nước vẩn màu đen lẫn trắng, kèm mùi lưu huỳnh — nói hơi quá lên một chút thì bảo là có mùi thum thủm. Vậy mà mình lại mỉm cười, vì cái cách họ gọi những vệt vẩn phù du lơ lửng trong nước: 湯の花 — "hoa của suối nước nóng". Một cái tên đẹp: không giấu đi khuyết điểm, mà biến chính nó thành điểm nhấn tuyệt vời.

Ngày thứ Ba nên khách vắng. Trong cái onsen nổi tiếng, to và rộng ấy, hay ở chỗ có cả phòng xông hơi mà chỉ vỏn vẹn ba người. Rộng rãi, nên có người cứ thế trần trụi (tắm onsen là phải tắm truồng), nằm dài phơi mình trên ghế gỗ, mắt lơ đãng liếc qua những ngọn núi đứng sừng sững giữa trời mây.

旭岳の連なりの、向かい側に当たるのが黒岳だ。この一帯もまた景勝地で、温泉が湧いている。ちょうど昼どき、「層雲峡温泉」の文字が目に入って、僕はカブをそこへ滑り込ませ、山あいの小さな町を歩きはじめた。

認めざるをえない、日本人というのは、実に美しい観光地をつくる。景色の美しさもさることながら、こんな遥か遠い山里の目玉は、やはり温泉にちがいない。「山あいの小さな町」と呼んだのは、家がほとんどないからだ。あるのは大きなホテルがいくつかと、ロープウェイの駅がひとつ、食事処が何軒か、そして交番まで。向こう側に目をやれば、切り立った山がそびえている。

僕はある食事処に入り、ぶた丼を頼んだ——千百円。貼り紙に、黒岳の温泉に入れば二百円引き、八百円が六百円になる、とある。僕は両方を選んだ。うまいものにありつけ、上等な湯にも浸かれて、おまけに割引まで付いてくるのだから。

二百円得したというあの感じ、まったくもって、いいものだ。

ここの湯は黒と白が入りまじって濁り、硫黄の匂いを帯びていて、大げさに言えば、ちょっと饐えたような匂いがする。それでも僕は、思わず頬をゆるめた。水に漂うあの儚い濁りのかけらを、彼らは「湯の花」と呼ぶのだ。美しい名だ——欠点を隠すのではなく、それをこそ、見事な見どころに変えてしまう。

火曜日ゆえに、客は少ない。名高い、広々とした温泉に、蒸し風呂まであるというのに、たったの三人。広いものだから、誰かが一糸まとわぬまま(温泉は裸で入るものだ)、木の椅子に長々と身を横たえ、天と雲のあいだにそびえる山々を、うつろな目で眺めていた。

06
Chương 06第六章

Gặp lại Mikuni Tōge 三国峠三国峠にて、再び

Đỉnh đèo · Buổi chiều峠の頂 · 午後
Cốc đồng, đĩa sứ, và ngọn đèo qua khung cửa銅のカップ、磁器の皿、窓ごしの峠

Nhật Bản có quá nhiều đèo (峠). Và họ còn làm cả những đường hầm xuyên núi để nối các đỉnh đèo. Đi trong đường hầm, xe mình thường khó giữ thăng bằng: hầm tối, mặt đường lại hay có những làn gờ tăng ma sát — chẳng thân thiện gì với xe máy. Cảnh đẹp trên đèo thì chưa thấy, nhưng cái cảm giác chạy qua đường hầm Ginga (銀河トンネル) dài hơn 3 km, với mình, là một điểm nhấn khó quên. Người ta bảo cuối đường hầm là ánh sáng; chứ ở cung đường 39 và 273 này, cuối đường hầm lại là… một đường hầm khác. Qua nốt Mikuni Tunnel (三国トンネル) dài 1152 m, mình lên tới đỉnh đèo.

Đi về phía Obihiro, cảnh đẹp nằm ở góc bên trái. Ngay cạnh đó là quán cà phê trên đỉnh đèo. Năm ngoái mình đã ghé. Năm nay mình lại ghé. Một ly cà phê đắng đựng trong cốc đồng, đặt trên chiếc đĩa sứ, kèm cái muỗng gỗ. Nhìn ra xa là đỉnh đèo, những con đường và cây cầu đẹp như tranh. Tiếng chim gù vang khắp, làm rộn ràng cả một vùng. Mấy con hươu mon men tới tận cạnh quán, thản nhiên gặm cỏ, chẳng biết sợ người.

Uống xong ly cà phê, mình đổ đèo, đi về phía Nukabira — tính ra dôi thêm khoảng 50 km. Lần trước chạy đường tuyết, len qua những cung đường rợp cây lá kim như tùng như thông, nhìn hai bên mà nhớ tới những khung cảnh được vẽ nên bởi câu chữ của văn học Nga. Còn chạy xe mùa hè thì đó lại là cái đẹp rất Nhật. Nhưng mà lạnh. Đường đèo, trời nhiều mây, lại thêm chạy xe trong mưa. Đừng tưởng tháng Bảy là nóng: ai đi Hokkaido, đặc biệt là đi cung đường đèo núi, hãy nhớ mặc cho ấm.

日本には、峠(とうげ)が多すぎるほどある。おまけに、山を貫くトンネルまでこしらえて、峠と峠をつないでいる。トンネルの中では、僕の車はいつも、平衡を保つのに苦労する。暗いうえに、路面にはよく、摩擦を増すための溝が刻まれていて、これがバイクには、ちっとも優しくない。峠の絶景はまだ拝んでいないが、三キロを超える銀河トンネルを走り抜けた、あの感覚は、僕にとって忘れがたい見どころのひとつだ。トンネルの先には光がある、と人は言う。ところがこの三十九号と二七三号では、トンネルの先にあるのは……また別のトンネルなのだ。長さ千百五十二メートルの三国トンネルを抜けて、ようやく僕は、峠の頂に着いた。

帯広の方角へ向かうと、絶景は左手の一角にある。そのすぐ脇にあるのが、峠の上の喫茶店だ。去年も僕は立ち寄った。今年もまた、立ち寄る。苦いコーヒーを一杯、銅のカップに注いで、磁器の皿にのせ、木の匙を添えて。遠くに目をやれば峠の頂、その道々と橋が、絵のように美しい。鳥の啼く声がそこかしこに響いて、あたり一帯をにぎわせている。鹿が幾頭か、店のすぐそばまで、そろそろと寄ってきて、平然と草を食み、人を恐れる様子もない。

コーヒーを飲み終えて、僕は峠を下り、糠平の方へ向かった——数えてみれば、五十キロほどの遠回りになる。前に雪道を走ったときは、唐檜や松のような針葉樹の並ぶ道を縫って走り、その両側を眺めては、ロシア文学の言葉が描き出す情景を思い出したものだ。夏に走れば、それはそれで、いかにも日本らしい美しさになる。けれども、寒い。峠の道、雲の多い空、おまけに雨の中の走行ときている。七月だから暑い、などと思ってはいけない。北海道を旅する人は、とりわけ峠道を行くなら、暖かくして行くにこしたことはない。

07
Chương 07第七章

Gặp gỡ chàng dân chơi tuổi 70七十歳の伊達男との出会い

Bãi trại · Chiều muộnキャンプ場 · 夕暮れ
Bác Sasaki, kiểu tóc thập niên 50 và chiếc đài hơn 30 năm tuổi佐々木さん、五十年代の髪型と三十年物のラジオ

Chiều muộn, sau khi dựng xong lều và đi siêu thị mua đồ trở về, có một bác lớn tuổi — chừng ngoài 70 — đi một vòng ghi sổ, thu tiền lều. Mỗi lều một đêm ở đây là 500 ¥. Rẻ, đẹp, tiện, và an toàn. Chả trách, chỉ có Hokkaido mới có món quà như thế cho những kẻ mê xê dịch.

Ăn cơm tối xong, mình đi một vòng xem thế nào. Ánh đèn buổi tối được người ta cố tình bố trí thành những đường vân xếp trải khắp 360° xung quanh. Đèn hắt xuống, tạo thành những vệt sáng và tối lan đều trên thảm cỏ. Đều, và đẹp. Lại gần khu quản trại, mình bắt chuyện với bác quản lý tên Sasaki (佐々木). Trong ánh sáng mờ mờ, ngẩng lên, mình mới để ý bác Sasaki để kiểu tóc của mấy ca sĩ thập niên 50 — kiểu Elvis Presley hay James Dean. Bác đang khoác cái áo outdoor của Mont Bell; chứ nếu khoác thêm cái áo khoác thập niên 50 nữa thì đúng là dân chơi chính hiệu.

Tò mò bắt chuyện, mình nghe bác Sasaki hé lộ ba điều mà với bác là cả một thời thanh xuân:

夕暮れどき、テントを張り終え、スーパーへ買い出しに行って戻ってくると、年配の方が——七十はゆうに越えていよう——ひと回りしては帳面をつけ、テント代を集めていた。ここは一張り一泊で五百円。安くて、きれいで、便利で、そのうえ安全だ。なるほど、北海道だけが、こんなふうに、旅を愛する者へ贈りものを用意してくれている。

夕飯を済ませて、僕はあたりをひと回り見て歩いた。夜の灯りは、わざと三百六十度、幾筋もの模様を描くように配してある。灯りが下へ落ちて、芝生の上に、明暗の筋が一様に広がる。整っていて、美しい。管理棟のそばまで来て、僕は佐々木(ささき)さんという管理人と、話し込んだ。ほの暗い光の中で顔を上げてはじめて、僕は気づいた——佐々木さんは、五十年代の歌手のような髪型をしている。エルヴィス・プレスリーか、ジェームズ・ディーンといった風の。今はモンベルのアウトドアの上着を羽織っているが、これにもし、五十年代風の上着でも重ねたら、まさしく本物の伊達男だ。

好奇心から話しかけてみると、佐々木さんは、自分にとってはまるごと青春だという三つのことを、ぽつりと打ち明けてくれた。

Ba điều của bác Sasaki佐々木さんの三つのこと
  1. 1 Nghe một bản nhạc hay.いい曲を聴くこと。
  2. 2 Phóng xe máy, bay trong gió.バイクを飛ばし、風の中を翔けること。
  3. 3 Gặp cảnh sát thì chạy.警察に出くわしたら、逃げること。

Nghe một bản nhạc hay? Nghe có vẻ hơi mâu thuẫn, khi bác bật cho mình nghe những giai điệu piano chậm rãi — chẳng ăn nhập gì với một người mê tốc độ. Nhưng nhìn cái đài hơn 30 năm tuổi đã cũ mà bác đang mở, nhìn ánh mắt xa xăm sau làn khói thuốc, nghe bác kể về cái tai nghe đặc biệt bác tự chế để bịt kín tai mà chạy xe từ Wakkanai men bờ biển về phía Otaru… Bác Sasaki kể chuyện mà như thể hình ảnh của mấy chục năm trước đang ùa về. Có lẽ những kỷ niệm đẹp nhất sẽ đi cùng ta suốt năm tháng: đến cái tuổi thất tuần (ngoài 70), người ta lại ngồi nhấm nháp mà nhớ về tất tần tật những gì tuổi trẻ đã dám dấn thân và thử sức. Đôi khi trong những thú vui ấy cũng có cả sự mâu thuẫn — cái đài giá 25 万 ¥ là một ví dụ như thế.

Còn phóng xe bay trong gió thì khỏi phải bàn. Ẩn sau vẻ lặng lẽ này là một tay lái lụa. Ngày chạy 1000 km; đã đi hết các mũi đất của Hokkaido trong 3 ngày. Đã phóng tới tận Erimo — cách đó những 200–300 km — chỉ để uống một ly cà phê ngon và gặp một người bạn. Cái tay lái lụa lướt đi trong gió ấy, khi dẫn đường cho đoàn đàn em (kōhai) chạy phía sau, những lúc nào đó lại muốn vặn ga hết cỡ. Ai lái chậm rề rề như mình thì chắc chẳng thể nào theo kịp, nếu lọt vào đoàn xe đó. Giờ bác Sasaki vẫn mê xe, vẫn say xe — chỉ khác là sống chậm lại đôi chút. Nhưng cái cảm giác đôi tay ghì lái, lướt đi giữa đại ngàn núi rừng Hokkaido, thì đã thành một phần con người bác.

Cái điều cuối cùng ấy thì quả là bản tính của một gã thanh niên bất hảo. Vậy mà bác Sasaki lại hé lộ nó như một phần của thanh xuân. Bốn, năm mươi năm trước, mỗi lần chạy xe mà bị cảnh sát đuổi, đám sempai lại xúi phóng thật mạnh và chạy. Chạy, và chạy. Cái cảm giác sau đó — cho cảnh sát hít khói, như thể vừa đạt được một điều gì đó. Khó mà bảo đó là việc nên khuyến khích; nhưng nếu đánh đổi bằng một mối nguy, một phen khó khăn cho xe cảnh sát, thì cái cảm giác ấy chẳng phải là tuyệt vời hay sao?

Trong vô vàn điều đáng nhớ, có lẽ ai trong chúng ta cũng nên chuẩn bị cho mình ba điều mà mình nhớ nhất. Muốn vậy thì phải toàn tâm toàn ý với nó. Yêu, mê, và say — có thế thì theo thời gian nó mới thăng hoa.

いい曲を聴くこと? 少し矛盾しているように聞こえた。佐々木さんが僕のために流してくれたのは、ゆったりとしたピアノの調べで——速さに酔う人には、どうにも似つかわしくない。だが、彼が回している、三十年以上も昔の古びたラジオを見て、煙草の煙の向こうの遠い眼差しを見て、稚内から海沿いを小樽の方へと走るために、耳をすっぽり塞ごうと自分でこしらえたという、あの特別なヘッドホンの話を聞いていると——佐々木さんの語りは、まるで数十年前の情景が、そっくりそのまま甦ってくるかのようだった。いちばん美しい思い出は、歳月とともに、人に寄り添っていくのだろう。古希(七十の坂)を越えると、人はまた腰を落ち着けて、若き日に思いきって飛び込み、力を試した、あれこれを、ひとつ残らず噛みしめながら懐かしむ。その楽しみのなかには、ときに矛盾も混じっている。二十五万円のラジオなど、その一例だ。

風の中を翔けることについては、言うまでもない。この物静かなたたずまいの奥に、玄人はだしのハンドルさばきが潜んでいる。一日に千キロを走り、三日で、北海道の岬という岬を巡り尽くした。旨いコーヒーを一杯飲み、一人の友に会うためだけに、二、三百キロも離れたえりもまで走ったという。風を切って滑る、あのハンドルさばきは、後ろを走る後輩(こうはい)の一団を先導しながらも、ふとした折には、思いきりアクセルを開けたくなる。僕のように、のろのろ走る者では、その一団に紛れ込んだら、とてもついてなど、いけまい。今も佐々木さんは、バイクに惚れ、バイクに酔っている。ただ、少しばかり暮らしのペースを落としただけだ。だが、両の手でハンドルを握りしめ、北海道の山野の広がりの中を滑っていく——あの感覚は、もう、彼という人間の一部になっている。

最後のあれときたら、まったくもって、不良少年の性分そのものだ。それでも佐々木さんは、それを青春の一部として打ち明ける。四、五十年前、バイクを走らせては警察に追われるたび、先輩たちは、思いきり飛ばして逃げろ、とけしかけた。走って、走って。そのあとの感覚——警察に煙を吸わせてやった、まるで何かをやり遂げたかのような。それを勧めるべきだ、とは言いにくい。だが、もしその代わりに、ひとつの危険を、パトカーにとってのひとつの厄介を差し出すのだとしたら——あの感覚は、いっそ、素晴らしいものではないか。

数えきれぬ思い出のなかから、おそらく僕たちは誰しも、いちばん忘れがたい三つのことを、自分のために用意しておくべきなのだろう。そのためには、それに全身全霊で向き合わねばならない。愛して、惚れて、酔いしれて——そうしてはじめて、時とともに、それは昇華していく。

Ẩn sau vẻ lặng lẽ này là một tay lái lụa.この物静かなたたずまいの奥に、玄人はだしのハンドルさばきが潜んでいる。

— Chương 07— 第七章
08
Chương 08第八章

Đừng buồn quá, cho dù trời có sập天が落ちてこようと、あまり悲しむな

Bên đài radio · Đêmラジオのそばで · 夜

Cái tính lạnh lùng của mình lại bẻ câu chuyện từ vui sang buồn, khi mình buột hỏi: điều gì khiến bác Sasaki đau, và つらい (tsurai — day dứt) nhất? Điếu thuốc thứ hai được châm lên.

Bác kể về câu chuyện của cậu con trai thứ ba trong nhà. Nhà bác có bốn người con. Bác Sasaki từ nhỏ tới lớn được rèn trong một môi trường khắc nghiệt: hồi đi học có tham gia câu lạc bộ trượt tuyết tốc độ cao, làm gì sai là bị sempai quát, đôi khi có cả đòn roi. Nhưng ở Nhật, sếp và sempai đã nói là đúng, không cãi lại. Tự bao giờ, điều đó trở thành một phần DNA của những người sống trong môi trường ấy.

Nhà bốn người con, bác Sasaki cũng dạy dỗ nghiêm khắc — tới giờ dạy là dạy. Một người sai, cả bốn cùng chịu trận. Bác châm điếu thuốc, rồi áp sát hai tay vào hông, mô phỏng lại cái tư thế nghiêm trang trong quân đội. Các con chịu sự giáo huấn hà khắc, nhưng không phải đứa nào cũng theo được. Cậu con trai thứ ba bỏ nhà đi vào một ngày nọ. Cậu lên Wakkanai, ghé nhà chị gái ở mấy hôm. Rồi người chị khuyên cậu về với bố. Nhưng trên đường về, cậu không gặp tai nạn — mà là cậu tự kết thúc đời mình, mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi.

Cha mẹ nào mà chẳng thương con, dù có hà khắc đến đâu đi nữa. Nhưng khi quyết định lìa đời của đứa con trai lại mang dấu ấn của chính mình, thì người cha nào mà không xót xa? Có lẽ những điều này, ngay cả người trong nhà cũng chưa hiểu hết. Nhưng nhìn ánh mắt ấy, nghe bác Sasaki kể, mình hiểu đó là nỗi đau lớn nhất của một đời người.

Vậy mà bác bảo: cuộc đời là thế, sẽ có những sai lầm, trong đó có những điều chẳng bao giờ còn cơ hội sửa lại. Nhưng đã sống thì cứ sống, đừng nghĩ quá nhiều, cũng đừng hối hận quá nhiều — bởi quanh ta còn vô vàn điều đang đợi ta làm, chứ không phải những điều để ta ăn năn hối cải.

Trong ánh đèn mờ, bác mở cái đài, rút ra chiếc đĩa nhạc bác yêu thích nhất, đưa cho mình. Mình cũng đi ra phía chiếc Super Cub, mở thùng xe, lấy tấm thiệp in hình Nhà thờ Đức Bà trao lại cho bác.

Đêm nay không có điện. Mình về trại, và đi ngủ sớm.

僕の醒めた性分が、また話を、楽しみから悲しみへと折り曲げた。佐々木さんにとって、いちばん痛く、いちばんつらい(辛い)ことは何か、と、口をついて訊いてしまったのだ。二本目の煙草に、火が点る。

佐々木さんが語ったのは、三番目の息子さんのことだった。四人の子どもがいる。佐々木さん自身、幼い頃から、厳しい環境で鍛えられてきた。学生時代には高速滑降のクラブに入っていて、何か間違えれば先輩に怒鳴られ、時には拳固も飛んだ。だが日本では、上司や先輩が正しいと言えば、それが正しく、逆らってはならない。いつの間にかそれは、その環境に生きる者たちの、DNAの一部となっていた。

四人の子を、佐々木さんもまた、厳しく躾けた——躾けるとなれば、とことん躾ける。一人が間違えば、四人そろって罰を受ける。佐々木さんは煙草を口に運び、それから両手を腰にぴたりと当てて、軍隊さながらの、あの厳めしい姿勢をやってみせた。子らは厳しい教えに耐えたが、皆が皆、ついていけたわけではない。三番目の息子さんは、ある日、家を出た。稚内へのぼり、姉のもとに幾日か、身を寄せた。やがて姉は、父のところへ帰りなさい、と諭した。だが帰り道、彼は事故に遭ったのではなく——みずから命を絶ち、二十歳のまま、永遠に止まってしまった。

子を想わぬ親など、いない。どれほど厳しかろうとも。だが、我が子がみずから世を去るという、その決断に、自分の刻んだ痕跡が残っているとしたら——胸を痛めぬ父親など、いるだろうか。おそらくこうしたことは、家族でさえ、まだ十分には分かっていない。だが、あの眼差しを見て、佐々木さんの語りを聞いて、僕には分かった。それは、人ひとりの生涯で、いちばんの痛みなのだと。

それでも佐々木さんは言う。人生とはそういうもの、過ちはあるものだ、その中には、二度と正す機会の巡ってこないものもある、と。けれど、生きると決めたなら、生きること。あまり考えすぎず、あまり悔やみすぎないこと。僕たちの周りには、まだ数えきれぬほど、僕たちがやるのを待っていることがある。悔い改めるべきことでは、なく。

ほの暗い灯りの中で、佐々木さんはラジオを開け、いちばんお気に入りのレコードを取り出して、僕に手渡した。僕もスーパーカブのほうへ行き、荷箱を開けて、ノートルダム大聖堂の絵の描かれた一枚のカードを取り出し、佐々木さんに手渡した。

今夜は、電気がない。僕はテントに戻り、早めに眠りについた。

HẾT CHƯƠNG
鍛冶屋 · Thợ Rèn
thorenbook.com
Nhật ký hành trình vòng quanh Nhật Bản bằng Super Cub スーパーカブによる日本一周の旅日記
Hokkaido · 07/07/2026 · Bản song ngữ Việt – Nhật北海道 · 二〇二六年七月七日 · ベトナム語・日本語 対訳版

アカウント登録

アカウントをお持ちですか?

アカウントを作成することにより、お客様は以下に同意するものとします。 利用規約 そして プライバシーポリシー 私たちの。.

アカウントにログイン

アカウントをお持ちではありませんか?

または