01Thức giấc và lội suối目を覚まし、沢に降りる
Trời nóng. Bữa nay ở dưới Gifu nhiệt độ lên bốn mươi độ. Hokkaido còn quá mát mẻ, nhưng cũng không phải là không nóng. Mấy hôm trước có vài trận mưa, nền đất vẫn còn ẩm. Mình cắm trại trên khu có cỏ, nhưng phía dưới lớp cỏ thì đất vẫn ướt. Cái lều đủ cho hai người nằm, mà phải nhét thêm cả đống đồ vào nên khá bí, không có chỗ cho gió đi qua. Hơi nóng từ nền đất hắt lên làm sàn lều còn ẩm hơn. Ra ngoài ngồi lại thấy mát hơn ở trong.
Công viên Oshamambe có nền cỏ xanh. Chỗ cắm trại nhìn ra suối. Mạn trên đầu nguồn có mấy căn bungalow cho thuê nhưng hình như không có khách nào chọn. Cũng phải thôi. Người ta lên tận Hokkaido chủ yếu là để cắm trại và ngắm thiên nhiên, chứ mấy ai lặn lội tới đây để chui vào một căn lều làm sẵn.
Sáng nay mình thức giấc, mấy trại bên cạnh là mấy bạn chạy xe máy. Khả năng cũng là dân phượt như mình. Nay nắng đẹp nên ai cũng tranh thủ dậy sớm để chạy được dài hơn. Mình cũng dậy sớm, lội xuống suối giặt cái găng tay dính mưa hôm trước.
Ngẩng lên thì thấy bên trại cạnh có chiếc Lexus, biển số Hakodate, số xe là năm con tám. Họ dẫn theo mấy con chó. Nhà hình như ba người. Trại to, đồ đạc nhiều. Ba người mà đi hai xe. Nhìn biển số với loại xe là đoán được ngay đây là một gia đình khá giả đi nghỉ. Mình thì chưa khá giả lắm. Nhưng ở công viên này, mỗi người chỉ cần trả tám trăm yên, là ai cũng được chia đúng bằng ấy cỏ như nhau.
暑い。岐阜のほうでは今日、四十度まで上がったという。北海道はまだずいぶん涼しいはずなのに、それでも暑くないわけではない。ここ数日、雨が続いていた。地面はまだ水を含んでいる。芝の上に張ったつもりでも、その下の土は湿ったままだ。二人用のテントに荷物まで押し込んでいるから、中は風の通り道がない。地面から照り返してくる熱が、かえって床を湿らせる。外に出ていたほうが、まだ涼しいくらいだった。
長万部公園のキャンプ場は、一面の芝生だ。テントを張った場所から沢が見える。上流のほうにバンガローが並んでいたけれど、借りている人はいないようだった。それもそうだろう。わざわざ北海道まで来て、出来合いの小屋に潜り込む人は少ない。みんな、自分のテントを張りに来ているのだ。
朝、目を覚ますと、隣のサイトはバイク乗りたちだった。おそらく僕と同じ、旅の途中の人間だ。今日は天気がいい。少しでも長く走るために、みんな早く起き出す。僕も早くに起きて、沢に降り、前の日の雨で汚れた手袋を洗った。
顔を上げると、隣のテントの脇にレクサスが停まっていた。函館ナンバー、番号は八が五つ並んでいる。犬を連れている。家族は三人らしい。テントは大きく、道具も多い。三人なのに、車は二台。ナンバーと車種を見れば、余裕のある家族の休暇だということはすぐにわかる。僕にはそこまでの余裕はない。けれどこの公園では、一人八百円を払えば、誰もが同じだけの芝を分けてもらえる。
02Đi về phương nam南へ
Hôm nay là ngày mình thăm thú Hokkaido buổi cuối, vì sáng mai sẽ từ Hakodate đi vào Aomori. Nghĩ vậy nên đâm ra tham, muốn vòng sang mạn tây, đi xuống phía nam rồi mới ngược lên Hakodate. Có điều đường vòng đó hơn hai trăm năm mươi cây số. Mà tới Hakodate mình cũng muốn đi bộ vòng vòng một chút. Đắn đo mãi, cuối cùng mình quyết đi mạn bờ đông. Tới giữa chừng, tùy tình hình mà chọn: hoặc cắt đường tắt thẳng tới Hakodate, hoặc đi đường vòng ngắm biển.
Giữa đường mình ghé Lawson mua cà phê. Bữa trước uống cà phê của Seven Eleven thấy người tỉnh táo hẳn khi lái xe, thành ra tự dưng mình mặc định cà phê ở cây bán hàng tự động không hiệu quả bằng cà phê mua ở cửa hàng tiện lợi. Cơ mà ở Lawson giá đắt gần gấp đôi. Một cốc hai trăm sáu mươi yên, trong khi ở Seven chỉ khoảng một trăm bốn mươi. Size thì bên Lawson có vẻ to hơn một chút. Nhưng cốc cà phê đi đường không phải là thứ để thưởng thức, nó là thứ để làm cho người tỉnh ra, thành ra lần sau chắc mình vẫn chọn Seven.
Đường từ Oshamambe tới Hakodate làn hẹp hơn, nhiều ổ gà, và rất nhiều xe tải. Lúc đổ xăng mình bắt chuyện với cô bán xăng thì mới biết xe tải nhiều là vì người ta đang làm đoạn Shinkansen từ Hakodate lên Sapporo. Tiệm xăng này chuyên cung cấp dầu cho khu vực đang đào hầm xuyên núi gần đó.
Về sau mình mới tra lại. Đoạn từ Shin-Hakodate-Hokuto tới Sapporo dài khoảng hai trăm mười hai cây số, trong đó chừng tám mươi phần trăm là hầm xuyên núi. Ban đầu người ta nhắm thông tuyến vào cuối năm tài khóa 2030, nhưng địa chất xấu hơn dự tính, lại gặp phải những khối đá khổng lồ, công trình đình trệ, nên hiện giờ dự kiến phải tới khoảng cuối năm tài khóa 2038. Khi xong thì đi từ Hakodate lên Sapporo chỉ còn trên dưới một tiếng, thay vì ba tiếng rưỡi tới bốn tiếng như bây giờ. Vì một tiếng đồng hồ của mười mấy năm sau, mà hôm nay xe tải nối nhau chạy trên con đường này.
Đoạn đường này có view biển, và có nhiều chỗ đứng nhìn xuống được thành phố phía dưới. Nhìn ra xa là mấy dãy núi phía nam. Đang tính chạy một lèo tới điểm dừng tiếp theo, nhưng cảnh đẹp, trời quang, nên mình ghé lại ở đoạn ngang đèo, ngồi ngắm biển một chút.
Lúc nhìn xuống dòng xe chạy, bất ngờ mình thấy ba người lái mô tô đi lên. Dẫn đầu chắc là một chiếc CT125, người mặc đồ phủ kín, đầu đội mũ bảo hiểm hình Doraemon. Họ vẫy tay chào, mình vẫy tay chào lại. Đó là cái thủ tục thường thấy khi những người đi đường gặp nhau. Chú Doraemon không nhìn thấy mặt, nhưng chắc chắn là dễ thương.
Cứ gặp cảnh đẹp mà dừng thế này thì đến tối cũng chưa tới nơi, nên mình nghỉ một chút rồi lại lên đường. Đến điểm dừng Michi-no-eki YOU・遊・Mori cũng chỉ ghé ăn một que kem Hokkaido rồi lại đi tiếp, không ngồi lâu. Mori vốn là quê của món ikameshi — mực nhồi cơm, món cơm hộp trứ danh của nhà ga — nhưng thôi, để dành cho lần sau.
今日が、北海道を見てまわる最後の日になる。明日は函館から青森へ入るからだ。そう思うと欲が出て、西のほうへ回り込み、南まで下りてから函館へ上がろうか、とも考えた。ただ、その道は二百五十キロを超える。函館の街も少しは歩きたい。しばらく迷って、結局は東の海沿いを行くことにした。途中の様子を見て、近道でまっすぐ函館へ抜けるか、遠回りして海を見るか、そのとき決めればいい。
途中、ローソンに寄ってコーヒーを買った。以前セブンイレブンのコーヒーを飲んだとき、運転中に頭がはっきりしたので、それ以来、自動販売機のコーヒーよりコンビニのコーヒーのほうが効くと、なんとなく思い込んでいる。ただ、ローソンは値段が倍近い。一杯二百六十円。セブンなら百四十円ほどだ。サイズはローソンのほうが少し大きい気もする。けれど旅の途中のコーヒーは、味わうためのものではなく、目を覚ますためのものだ。次に選ぶなら、たぶんセブンにする。
長万部から函館へ向かう道は、車線が細くなり、穴も増え、トラックがぐんと多くなった。給油のとき、スタンドの女性に話しかけてわけを聞いた。函館から札幌まで、新幹線を通す工事をしているのだという。このスタンドは、近くの山を掘っている現場に軽油を供給しているのだと。
あとで調べてみた。新函館北斗から札幌までは約二百十二キロ。そのうち八割ほどがトンネルだという。もともとは二〇三〇年度末の開業を目指していたが、想定を超える地質の悪さや巨大な岩の塊が出てきて工事が難航し、いまは二〇三八年度末ごろの見込みになっている。開通すれば、いま特急で三時間半以上かかる函館・札幌間が、一時間ほどになるらしい。八年後の一時間のために、いまこの道をトラックが行き交っている。
この道は海を見下ろす。街を見下ろせる場所も何か所かある。遠くには南の山並みが見えた。次の休憩地点まで一気に走るつもりだったけれど、天気がよく、景色があまりに気持ちいいので、峠の途中で停まった。腰を下ろして、しばらく海を見ていた。
そのとき、下の車列を眺めていたら、三台のバイクが上ってきた。先頭はたぶんCT125。全身を装備で固め、ヘルメットはドラえもんだった。すれ違いざま、手を挙げる。僕も手を挙げる。旅をする者同士が道で交わす、いつもの手続きだ。顔は見えなかったけれど、あのドラえもんはきっといい人に違いない。
こんな調子で景色のいいところに停まっていたら、日が暮れても着かない。少し休んで、また走り出した。道の駅「YOU・遊・もり」でも、北海道のアイスを一本食べただけで、腰を落ち着けずに出発した。森といえば駅弁のいかめしの町だけれど、それは次に来たときの楽しみに取っておく。
03Cung đường 278二七八号線
Từ chỗ YOU・遊・Mori đi thêm một đoạn là tới nút giao. Ở đây có hai lựa chọn. Đi thẳng tới Hakodate chỉ khoảng bốn mươi cây. Còn đi vòng theo cung đường 278 ven biển thì khoảng một trăm hai mươi cây. Lúc đó là khoảng giữa trưa, mình có hỏi cô bán kem, cô bảo đường 278 đẹp nhưng xa. Xa không sao, chỉ cần đẹp. Thế là mình chọn cung đường này.
Dọc 278 cũng có nhiều điểm dừng: khu cưỡi ngựa, suối nước nóng, núi Esan. Nhưng cung đường này thì chỉ cần chạy thôi cũng đã vui rồi, không cần phải dừng. Điểm khác biệt so với những nơi khác là sự tồn tại của ngọn Komagatake, nhìn thoai thoải mà lại rất cao — một nghìn một trăm ba mươi mốt mét. Nghe nói ngày xưa nó có dáng như núi Phú Sĩ, rồi qua mấy đợt phun trào và sụt lở mới thành cái dáng lưng ngựa như bây giờ. Người ta gọi nó là Oshima Fuji, núi Phú Sĩ của xứ Oshima.
Cung đường ven biển này không dốc. Nó dài và thoai thoải. Hai bên có hàng cây. Có đoạn chạy thẳng thì nhìn thấy núi. Có đoạn chạy thẳng thì thấy biển. Nếu may mắn chọn được điểm nào giữa cung đường, vừa nhìn về phía trước vừa nhìn qua gương chiếu hậu về phía sau, thì thấy chiều nào cũng gần như hướng về một chỗ xa xăm như nhau. Dù cả trước và sau chỉ là một con đường.
Đất ở đây chắc rộng nên người ta không vội bẻ cua. Mình nhớ có tạp chí từng đăng những bức hình kiểu con đường thoai thoải, tầm nhìn vô cực này ở đâu đó. Còn ở đây thứ đó chẳng có gì lạ. Đi một chốc là lại bắt gặp cảnh như vậy. Sự xa xỉ ở đây, nếu có, thì phải kể tới những căn nhà. Hiếm lắm mới thấy một nếp nhà mọc lên giữa rừng.
「YOU・遊・もり」から少し行くと、分岐に出る。ここで二つに分かれる。まっすぐ函館へ向かえば四十キロほど。海沿いの国道二七八号を回っていけば百二十キロほど。時刻は昼ごろだった。アイスを売っていた人に聞いてみると、二七八号はきれいだけど遠いよ、と言われた。遠くてもかまわない。きれいならそれでいい。それでこの道を選んだ。
二七八号のまわりには、乗馬の施設や温泉、恵山と、寄り道の種はいくらでもある。けれどこの道は、ただ走っているだけで十分に楽しい。ほかの土地と違うのは、駒ヶ岳があることだ。なだらかに見えるのに、実際にはずいぶん高い。標高千百三十一メートル。かつては富士山のような形をしていたが、噴火と山体崩壊を繰り返して、いまの背中の低い姿になったという。渡島富士、と呼ばれている。
この海沿いの道はきつい勾配がない。長く、ゆるやかだ。両側には木が並んでいる。まっすぐな区間に入ると、山が見える。別のまっすぐな区間では、海が見える。運よく道のちょうどいい場所に立てば、前を見ても、ミラーで後ろを見ても、どちらも同じくらい遠いところへ向かって伸びている。前も後ろも、ただ一本の道でしかないのに。
土地が広いから、人はわざわざ曲げる必要がなかったのだろう。こういう、なだらかで果てのない道の写真を、どこかの雑誌で見た覚えがある。ここではそれが、珍しくもなんともない。しばらく走れば、また同じ景色が現れる。この土地で贅沢と呼べるものがあるとすれば、それは家のほうだ。森のあいだに家が一軒建っているのは、めったに見ない。
04Natowa — bạn và tôiなとわ ― あなたとわたし
Tính ghé chỗ nào đó ăn cơm trưa mà đi miết cũng không có quán nào. Tính ra cũng phải chừng tám mươi cây số, đến khu nhìn thấy ngọn Esan thì tới điểm dừng Natowa-Esan. Đây đúng là chỗ nên dừng chân.
Vì bên cạnh là một bãi biển cực kỳ rộng. Có khu biển nông trông có vẻ tắm được. Cạnh nhà ga là khu cắm trại, có hai ba người dựng lều ở đó. Sau này mình mới biết "natowa" là tiếng địa phương vùng Donan, nghĩa là "bạn và tôi". Người ta đặt tên vậy với mong muốn nơi đây thành chỗ để người gặp người. Cái tên ấy tự dưng thành ra cái tên của cả ngày hôm nay.
Gió lớn thổi cả những hạt nước biển bay lên, như sương bay trong nắng, tạt lên bờ cỏ xanh. Tình cờ gặp một bác từ Gifu lên, bác tên Kawasaki, bữa nay mới vào Hokkaido. Bác chạy dọc bờ biển từ Toyama lên trên này, mà bảo chỗ này là đẹp nhất, nhìn mãi không chán. Rồi bảo nay đi tắm onsen ở gần đây, tối lại quay về nghỉ tại điểm dừng này.
Mấy bạn cắm trại ở đó cũng phải đổi hướng trại mấy lần vì gió làm bay bạt. Nhìn từ sân thượng, thấy mấy bóng người nho nhỏ đang vật lộn với cái lều, mình mỉm cười như đang xem một bộ phim. Cơ mà những tối mấy hôm trước, mình cũng chính là một diễn viên như họ.
Đêm nay rất muốn nghỉ ở đây. Có điều dự báo ngày mai có mưa, nên mình nghĩ mình sẽ chọn rider house.
Cơm trưa ở đây không có nhiều lựa chọn lắm, mà mình hơi đói nên chọn set no bụng (満腹セット): có udon, mấy lát mực luộc, một bát cơm nhỏ với rong biển mềm ở trên. Món ăn cực kỳ đơn giản. Nhưng ngon. Không biết vì cái vị mằn mặn, hay vì cái bụng đói, hay đơn giản vì cảnh biển đẹp ngoài cửa sổ khiến cho món ăn trở nên đặc biệt vô cùng. Mình cũng tính mua ít đồ mang theo, nhưng chuyến này hành lý nhiều nên cố gắng cái gì không cần thì bỏ lại. Chứ như mọi khi thì chắc chắn là mua về, không tặng bạn bè thì ít nhất cũng để ăn dần.
どこかで昼を食べようと思っていたのに、走っても走っても店がない。八十キロほど来ただろうか。恵山が見えるあたりで、道の駅「なとわ・えさん」に着いた。ここは停まるべき場所だった。
隣が、とてつもなく広い浜なのだ。浅くて泳げそうな一角もある。道の駅のとなりはキャンプ場で、二、三人がテントを張っていた。「なとわ」というのは、この道南の言葉で「あなたとわたし」という意味だと、あとで知った。人と人とが行き合う場所であるように、という願いを込めた名前らしい。名前がそのまま、この日の一日の題になってしまった。
風が強かった。潮を含んだ細かい水が、日差しのなかを霧のように舞い上がって、緑の芝に降りかかる。岐阜から来たという男性に出会った。川崎さんという。今日、北海道に入ったばかりだそうだ。富山から海沿いをずっと走ってここまで上ってきたけれど、ここがいちばんきれいだ、いくら見ていても飽きない、と言う。これから近くの温泉に入って、夜はまたここへ戻って休むのだと。
キャンプの人たちは、風にあおられて、何度もテントの向きを直していた。屋上の展望デッキから見下ろすと、小さな人影がテントと格闘している。僕は映画でも見ているように微笑んでいた。けれど、ほんの数日前の夜には、僕自身がその映画の中の役者だったのだ。
今夜はここに泊まりたい、と本気で思った。ただ、明日は雨の予報だった。だからライダーハウスにしよう、と決めた。
昼の選択肢はあまり多くなかったけれど、腹が減っていたので「満腹セット」を頼んだ。うどんと、茹でたイカが数切れ、それに柔らかい海藻をのせた小さなご飯。ひどく簡単な料理だ。それなのに、おいしい。あの塩気のせいなのか、空腹のせいなのか、それとも窓の外の海のせいなのか。ここでも土産を買って帰ろうかと思ったけれど、この旅は荷物が多い。いらないものは置いていくと決めている。いつもの僕なら、人にあげるぶんがなくても、自分で少しずつ食べるぶんくらいは買って帰るのだけれど。
05Làng của konbu昆布の村
Nửa đoạn đường còn lại về Hakodate, mình có đi qua một khu làng chài. Ở đó nhà cửa san sát. Không có hàng quán. Nhà cũng cũ. Thậm chí máy bán hàng tự động cũng không thấy ven đường. Khả năng khi muốn mua đồ thì mọi người sẽ phải đi vào mạn trong núi.
Dọc đường, thứ mình quan sát được là những búi konbu phơi ngoài nắng. Những búi đó rất dài, và cũng đã ngả màu xanh đậm. Hình như có chỗ nào đó ghi là đứng đầu Nhật Bản. Đúng vậy, konbu ở đây dài, rộng và dày. Nhờ đó mà nấu nước dùng (dashi) sẽ cho ra vị đặc biệt.
Sau này tra lại thì thấy hơn chín mươi phần trăm konbu của cả nước Nhật là của Hokkaido, mà trong số đó Hakodate chiếm khoảng ba mươi phần trăm — đứng đầu Nhật Bản cả về sản lượng lẫn giá trị. Loại konbu vùng ven biển từ eo Tsugaru vào tới vịnh Funka là ma-konbu. Vùng Minamikayabe gọi là "shirokuchihama", còn khúc Esan mình đang chạy đây thì gọi là "kurokuchihama". Nghe nói ngày xưa phiên Matsumae vẫn lấy konbu ở đây tiến vua và dâng lên Mạc phủ.
Ai chạy qua đây mà nhìn ra bãi xa xa sẽ thấy mấy cái phao nổi chi chít ngoài biển. Khả năng đó là những chỗ mà ngày sóng lặng, người ngư dân sẽ chèo thuyền ra thu konbu.
Khu làng chài thì không được đẹp lắm, vì có bóng dáng con người. Nhưng ở đoạn trước và sau thì cực tuyệt. Nó giống như cảm giác mình đang đi trong một bộ phim hoạt hình nào đó. Khả năng vì trời nắng đẹp, và vì gam xanh của cây với gam trắng của sóng biển tách bạch quá rõ. Cứ đi dọc đường như vậy, len qua mấy cái đường hầm cũ — sau này mình mới biết đó là bảy cái hầm đào tay nối nhau, thông từ năm Showa thứ tư, tức 1929 — rồi tới khu lướt sóng, rồi cuối cùng mình cũng vào tới Hakodate sau bốn giờ chiều.
函館までの残り半分の道で、漁村をひとつ通り抜けた。家が隙間なく並んでいる。店はない。家も古い。自動販売機さえ、道端に見当たらなかった。何か買いたくなったら、山のほうへ入っていくしかないのだろう。
道沿いで目についたのは、日に干された昆布の束だった。ずいぶん長い。もう濃い緑に変わっている。どこかに日本一と書いてあった気がする。たしかに、ここの昆布は長く、幅が広く、厚い。だからだしを取ると、ほかにはない味が出る。
あとで調べると、国内でとれる昆布の九割以上が北海道産で、そのうちの三割ほどを函館が占めていた。生産量も生産額も日本一だという。津軽海峡から噴火湾にかけての沿岸でとれるのが真昆布で、南茅部のあたりのものは「白口浜」、この恵山のあたりのものは「黒口浜」と呼ばれる。松前藩が朝廷や幕府へ献上していたというから、ずいぶん古くからの品なのだ。
このあたりを走ると、沖のほうに浮きがびっしり浮かんでいるのが見える。凪いだ日に、漁師が舟を出して昆布を上げに行く場所なのだろう。
漁村そのものは、そう美しくはなかった。人の暮らしの影があるからだ。けれどその前後の道は、すばらしかった。どこかで見たアニメーションの中を走っているような気がした。たぶん、晴れていて、木の緑と波の白がはっきり分かれていたからだろう。そのまま走り、古い素掘りのトンネルをいくつも抜けた。あとで知ったところでは、昭和四年に開通した、七つ続く手掘りの隧道だという。それから波乗りをする浜のあたりを過ぎて、四時すぎ、ようやく函館に入った。
06Meet House và cuộc tái ngộ ở Funamiミートハウスと、船見公園の再会
Mình chọn ở rider house này vì cách cảng tàu đi Aomori không quá xa, mà lại ngay trung tâm Hakodate, chỗ có thể ngắm cảng về đêm. Meet House là căn nhà cho rider, được vận hành từ năm 1989, tính ra đã ba mươi bảy năm. Như vậy căn nhà này bằng đúng tuổi mình. Giá thuê khá mềm, chỉ một nghìn sáu trăm yên một tối. Máy giặt hết một trăm yên, không có máy sấy, nhưng phơi trong phòng thì một tối là khô.
Bác chủ nhà tên là Sakashita. Năm nay chắc cũng phải ngoài tám mươi. Bác gái còn khá khỏe. Hôm đó mình nhớ bác gái lái xe về, dựng xe trước cổng nhà, chỗ mình để cái cub ngay lòng đường. Bác gái đi thoăn thoắt vào lấy túi rác rồi leo lên xe, chạy về phía khu nhà kho gạch đỏ.
Bác đi rồi mình mới hỏi vui bác trai Sakashita: "Vợ bác có đáng sợ không?" Bác cười hiền lành, bảo các bà vợ trên thế giới này đều đáng sợ hết. Rồi cười khà khà, rồi bước đi cà nhắc, lê một bên chân ra cái ghế gỗ ngồi trước cảng biển. Chỗ này gần biển, đi bộ mấy bước chân là nhìn thấy tàu đỗ trước mặt.
Chiều hôm đó, sau khi dọn đồ, mình lái xe đi vòng vòng một chốc thì thấy cái tàu Imabari từ Ehime lên. Tàu ở xa, nhưng tự dưng thấy quen. Chắc tại cái tên Imabari làm mình nhớ tới hồi làm việc ở Onomichi dưới Hiroshima.
Cảng ở đây cũng không to lắm. Lái xe một lát là đi hết khu cảng. Mình lon ton trên cái cub, tính ghé chỗ nào đó tham quan, cơ mà ở thành phố lớn này không có bãi đậu xe. Khác hẳn so với những nơi khác trên mạn bắc. Ở đây đậu ba mươi phút là mất ba trăm yên như chơi. Mình đã lượn qua được mấy chỗ có cảnh đẹp, nhưng không ghé vào được.
Rồi mình phóng lên công viên Funami. Đường lên cái công viên này dốc thẳng đứng. Leo bằng cub cũng phải về số hai. Vậy mà lên tới nơi thì cái xe cũng ho khụ khụ chứ không dễ dàng gì.
Bãi đậu xe có lác đác vài chiếc ô tô. Mình thấy có một chiếc cub 50 phân khối biển số Shiga, thành phố Otsu. Đoán quen quen, vì hình như mình đã gặp ở chỗ cắm trại gần Kamui Misaki. Còn đang để ý thì từ trên đỉnh đồi, có một cu cậu vẫy tay chạy xuống hớn hở. À, hóa ra là Shuta (柊太), một cậu thanh niên mười chín tuổi đi làm thêm kiếm tiền để đi vòng quanh Hokkaido.
Bữa cắm trại mình có gặp và nói chuyện đôi ba câu, chứ không hỏi kỹ. Ấy vậy mà hôm nay gặp lại đã thấy như gặp người quen. Ít nhất thì cái xe cub cũng có bạn đồng hành. Cho hai cái xe đấy chụp chung một kiểu. Kiểu này sang. Sang vì được chụp nhìn xuống cả cái cảng biển lớn.
Shuta cũng đã lòng vòng gần hết khu phía nam. Cậu ngồi kể về kỷ niệm hồi nhỏ, bà cho tấm vé đi Hà Lan thăm người em họ. Đi một lần tự dưng thấy thích đi ngắm cảnh đó đây. Shuta không học đại học. Đi làm, kiếm tiền, rồi nay mò lên được Hokkaido để thăm thú. Cậu kể cả về quán làm thêm ở Shiga, rồi bảo nhất định phải tới quán ấy khi ghé qua Shiga trong hành trình đi vòng quanh nước Nhật.
Chẳng hiểu sao mình lại nhớ tới quán mì ramen Tabibito ở Toyako, nhớ tới bát mì nấu bằng xương hươu, topping bằng thịt hươu chứ không phải thịt bò hay thịt lợn. Mình mới bảo: "Shuta, cậu nhất định phải ghé quán mì ở Toyako. Nói chuyện với đầu bếp ở đó. Biết đâu sau này cậu quay lại Shiga, năm mười năm nữa cậu có quán mì hươu ở Shiga đấy. Lúc đó nhắn tớ, tớ từ Việt Nam bay qua ăn bát mì mở hàng cho cậu."
Câu nói bâng quơ thôi. Cơ mà mình có cảm giác Shuta sau này sẽ làm gì đó liên quan tới quán ăn, và một mảnh thông tin được kết nối cũng không phải là tệ. Shuta không biết có mở quán không, nhưng Shuta đã bật Google Maps lên và đánh dấu quán mì.
このライダーハウスを選んだのは、青森行きの船着き場から遠くなく、しかも夜の港を眺められる函館の真ん中にあるからだ。ミートハウスは一九八九年から、三十七年続いている。つまりこの家は、僕とちょうど同い年ということになる。一泊千六百円。洗濯機は百円。乾燥機はないけれど、部屋に干せば一晩で乾く。
主人は坂下さんという。八十を越えているだろう。奥さんのほうはまだずいぶん元気だ。その日、奥さんが車で戻ってきて、門の前に停めた。僕のカブは道端に出したままだった。奥さんはすたすたと家に入ってごみ袋を持ち出し、また車に乗って、赤レンガの倉庫のほうへ走っていった。
見送ってから、僕は坂下さんに冗談で聞いてみた。「奥さんは怖いですか」。坂下さんは穏やかに笑って、世界中どこでも、奥さんというのは怖いものだよ、と言った。それからかっかっと笑って、片脚を引きずりながら、港の前の木のベンチのほうへ歩いていった。ここは海が近い。何歩か歩けば、目の前に船が停まっている。
その日の夕方、荷物を片づけてから、カブでしばらく走ってみた。愛媛から来た今治の船が停まっていた。遠かったのに、なぜか見覚えのある気がした。今治という名前が、広島の尾道で働いていたころを呼び起こしたのだろう。
港はそう大きくない。少し走れば端まで行ってしまう。カブでちょこちょこ動きながら、どこか寄ってみようと思ったけれど、この大きな街には停める場所がない。北のほうとはまるで違う。ここでは三十分停めれば三百円が飛んでいく。いい景色のところを何度か通り過ぎたけれど、降りることができなかった。
それで、船見公園まで上がった。この公園への道は、まっすぐに立ち上がるような坂だ。カブでも二速に落とすしかない。それでも上りきったころには、機械がごほごほと咳をしていた。
駐車場には車が数台。そのなかに、五十ccのカブが一台停まっていた。滋賀ナンバー、大津。見覚えがある。たしか神威岬の近くのキャンプ場で会った車体だ。気づいて丘の上を見ると、一人の若者が手を振りながら、嬉しそうに駆け下りてきた。柊太だった。十九歳。アルバイトで金を貯めて、北海道をまわっている。
キャンプ場では二言三言かわしただけで、詳しく聞くこともなかった。それなのに今日は、旧い知り合いに会ったような気になっている。少なくとも、僕のカブにも道連れができたわけだ。二台を並べて、一枚撮った。この写真は贅沢だ。大きな港を見下ろしながら撮ったのだから。
柊太も、南のほうはあらかた回ったという。小さいころ、おばあさんがオランダ行きの切符をくれて、いとこに会いに行ったのだと話してくれた。一度行ってみたら、あちこちの景色を見に行くのが好きになった。大学へは行かなかった。働いて金を貯めて、こうして北海道まで来ている。滋賀のバイト先の店の話もしてくれて、日本一周の途中で滋賀に寄ったら必ず来てくださいね、と言った。
なぜだか、洞爺湖の旅人という店のラーメンを思い出した。牛でも豚でもなく、鹿の骨で炊いて、鹿の肉をのせたあの一杯を。それで僕は言った。「柊太、洞爺湖のあの店には絶対に寄ったほうがいい。あそこの主人と話してみるといい。もしかしたら五年後、十年後に滋賀へ帰って、君が鹿のラーメンの店を出しているかもしれない。そのときは連絡してくれ。ベトナムから飛んでいって、最初の一杯を食べるから」
その場の思いつきのような言葉だった。けれど柊太はいつか、食べ物の店に関わる何かをするような気がしている。情報の断片がひとつつながるのも、悪いことではない。店を開くかどうかはわからない。ただ柊太はその場でグーグルマップを開いて、あのラーメン屋に印をつけた。
07Hakodate về đêm函館の夜
Người ta bảo Hakodate là thành phố lãng mạn. Mình cũng tin như vậy. Vì trước đó trong công ty có một cậu bạn nói sẽ lên Hakodate để cầu hôn bạn gái. Màn cầu hôn thành công, nay bạn đấy cũng đã kết hôn và mua nhà ở Ise của Mie. Không biết bạn đấy cầu hôn thế nào, nhưng đi dạo về đêm quanh vùng đất cảng này thì mình cũng hình dung được sơ qua.
Trời nóng nên mình đi đôi dép tổ ong, mặc quần đùi và cái áo sợi bông đi dạo quanh khu phố. Đường xá ở đây có nét gì đó giống những thành phố cảng khác như Otaru, như Nagasaki, vì có những dãy nhà kho tường đỏ. Đồi dốc nhìn xuống cảng. Ở ven đồi là những nhà thờ của Nga và của Anh. Có tòa lãnh sự Anh, có tòa lãnh sự Nga, có tòa nhà công hội xây theo phong cách châu Âu.
Khoảng gần chín giờ tối, đường còn sáng đèn, thi thoảng có chiếc tàu điện chạy trên mặt đường (romen densha) đi qua. Có một cặp đôi bắt tour taxi đêm đi thăm các địa điểm. Bác lái taxi đội chiếc mũ của người lái tàu, kiểu như mũ hải quân, nhưng không đội xuôi mà hất ngược lại, trông rất phong cách. Ở dưới công viên có một cặp đôi khác cũng ngồi trên ghế nói chuyện với nhau, bên cạnh chiếc mô tô phân khối lớn.
Hakodate cảnh rất trữ tình. Cái ánh đèn bến cảng về đêm. Có lẽ chỉ thiếu một khúc nhạc nữa là đủ vị của sự thơ mộng. Đường xá, phong tình, con người, và cả những cặp đôi ghé thăm những căn nhà cổ — chừng ấy đủ để làm cho phong cảnh ở đây khiến những người trẻ muốn chọn làm nơi tỏ tình.
Mình lang thang đi bộ về trong đêm. Chân cũng đã mỏi. Nhưng cảm thấy thật vui vì thời tiết đẹp. Đêm nay sẽ có mưa. Không sao, vì căn nhà trọ hôm nay không điều hòa, không có quạt. Nằm ngủ mở cửa sổ nghe tiếng mưa và nghe tiếng chim biển kêu ngoài cảng cũng là một trải nghiệm.
Đêm nay mình đi ngủ khi thành phố còn sáng đèn.
函館は恋の街だと言われる。僕もそう思う。会社にいたころ、恋人に結婚を申し込むために函館へ行く、と言っていた男がいた。首尾よくいって、いまはもう結婚して、三重の伊勢に家を買った。どんなふうに切り出したのかは知らない。けれどこの港町を夜に歩いてみると、なんとなく想像がついた。
暑かったので、サンダルに短パン、綿のシャツで街をぶらついた。ここの道は、小樽や長崎のような、ほかの港町とどこか似ている。赤レンガの倉庫が並んでいるからだろう。港を見下ろす坂。坂のわきにはロシアの教会があり、イギリスの教会がある。旧イギリス領事館があり、旧ロシア領事館があり、ヨーロッパ風の公会堂がある。
九時近く、街にはまだ明かりがあって、ときどき路面電車が通り過ぎた。夜のタクシー観光で名所をめぐっている二人連れがいた。運転手さんは船乗りのような、海軍帽に似た帽子をかぶっていて、まっすぐではなく後ろに傾けてかぶっているのが、なかなか粋だった。下の公園では、また別の二人が、大型のバイクのそばのベンチに座って話し込んでいた。
函館の夜はひどく情がある。港の明かり。あとは音楽が一曲あれば、それで足りてしまう。道と、風情と、人と、古い建物を訪ねて歩く二人連れと。それだけで、若い人たちがここを告白の場所に選びたくなる理由には十分だった。
歩いて宿へ帰った。足はもう疲れていた。それでも、天気がよかったというだけで気分がいい。今夜は雨が降るという。かまわない。今日の宿には冷房もなければ扇風機もない。窓を開けて横になり、雨の音と、港のほうで鳴くウミネコの声を聞くのも、ひとつの経験だ。
今夜は、街がまだ明かりを落とさないうちに眠ることにする。
08 ・ Ghi bên lề — cho người đi sau08 ・ 道の余白に ― あとから行く人へ
Nút giao sau michi-no-eki YOU・遊・Mori. Đi thẳng về Hakodate khoảng 40 km; đi vòng theo quốc lộ 278 ven biển khoảng 120 km. Với cub, đường vòng tốn thêm chừng ba tiếng kể cả nghỉ. Nếu tới nút giao sau hai giờ chiều thì nên cân nhắc, vì cả cung đường gần như không có hàng quán.
Michi-no-eki Natowa-Esan. Mở khoảng 9:30–17:30, quán ăn mở muộn hơn một chút. Có camping ven biển và sân thượng ngắm eo Tsugaru. Gió biển ở đây rất mạnh — nếu cắm trại thì tính trước hướng lều và cọc neo. Đặc sản là kem konbu.
Núi Esan. Núi lửa đang hoạt động, đỉnh 618 m, có bãi đỗ ở lưng chừng khoảng 320 m. Không cần leo cũng nhìn được nguyên dáng núi từ đường 278.
Đỗ xe ở Hakodate. Khác hẳn phía bắc: chừng 300 yên cho 30 phút. Cách gọn nhất là gửi xe một chỗ rồi đi bộ hoặc dùng tàu điện mặt đường. Riêng dốc lên công viên Funami thì rất đứng — cub phải về số hai.
Cà phê dọc đường. Seven khoảng 140 yên, Lawson khoảng 260 yên. Với người lái xe cả ngày, đây là khoản chênh đáng để nhớ.
道の駅「YOU・遊・もり」先の分岐。まっすぐ函館へ向かえば約四十キロ。海沿いの国道二七八号を回れば約百二十キロ。カブなら、休憩を入れて三時間ほど余計にかかる。午後二時を過ぎて分岐に着いたなら、考えたほうがいい。この道には、ほとんど店がない。
道の駅「なとわ・えさん」。おおむね九時半から五時半まで。食事処はもう少し遅くまで開く。海沿いのキャンプ場と、津軽海峡を見渡す屋上デッキがある。ここの風は強い。テントを張るなら、向きとペグを先に考えておくこと。名物は昆布ソフトクリーム。
恵山。活火山で、頂は六一八メートル。中腹の標高三二〇メートルあたりに火口原駐車場がある。登らなくとも、二七八号から山の姿はよく見える。
函館の駐車。北とはまるで違う。三十分で三百円ほど。一か所に停めて、あとは歩くか路面電車を使うのが早い。ただし船見公園の坂は急だ。カブは二速を覚悟すること。
道中の珈琲。セブンはおよそ百四十円、ローソンはおよそ二百六十円。一日じゅう走る者にとっては、覚えておく価値のある差だ。