01Rời đi trong sáng sớm夜明けに発つ
Sau chương trình WWOOF, mình lên đường, bắt đầu hành trình đi và trải nghiệm Nhật Bản. Những ngày ở farm rất tuyệt vời, nhưng từ giờ mình sẽ bắt đầu hành trình đi gặp gỡ những ngọn núi và con sông. Chuyến đi lần này có chủ đề đi tới 47 tỉnh thành, và điều tối thiểu cần làm là đặt chân tới những ngọn núi cao nhất. Ví dụ Hokkaido thì điểm nhất định phải đến là Asahidake. Còn những khu vực khác thì tùy tâm trạng mà quyết.
Hôm nay chủ farm Ryo và bạn wwoofer Somin cũng dậy sớm để đi thu hoạch rau. Mình thức dậy cùng giờ để chuẩn bị hành lý cho chuyến đi. Bữa qua đã dọn qua đồ, nhưng những thứ còn cần chuẩn bị thì vẫn còn, thành ra mình rục rịch cũng mất hơn ba mươi phút. Tới gần 5h mới xuất phát. Trước cửa nhà có hai con chó, một đen một trắng. Thường ngày con trắng cứ có người đi qua là âm thầm lao tới định dọa. Bữa nay nó không làm thế nữa. Mình cũng vẫy tay chào hai nhóc. Trời hơi âm u. Cánh cửa không bao giờ khóa, thành ra mình chỉ bước ra khỏi căn phòng và khép nhẹ lại. Đặt hành lý lên chiếc Super Cub, đội vội chiếc mũ bảo hiểm bản Final Edition của Honda rồi vẫy tay chào farm mà đi. Phía trước là khoảng 70km đường đèo và phải có mặt ở Hoshino Resort lúc 6:30, thành ra mình cũng không đứng lại được lâu. Chỉ nhớ cái cảm giác rời một nơi đã từng gắn bó — dù ngắn dù dài — luôn khiến người ta lưu luyến.
ウーフの日々が終わり、私はようやく旅に出る。農園で過ごした時間は、いま思い返しても豊かなものだった。けれどここからは、山と川に会いにゆく旅がはじまる。今度の旅の主題は四十七の都道府県をめぐることで、せめてそれぞれの土地でいちばん高い山の麓には立ちたいと思っている。北海道なら、行かねばならないのは旭岳だ。あとの土地は、その日の心持ちにまかせて決めればいい。
今朝は農園主の亮さんも、ウーフの仲間のソミンも早くに起きて、野菜の収穫に出ていった。私も同じ時刻に目を覚まし、旅の荷を整える。前の晩にあらかた片づけておいたはずなのに、まだ手のつかないものが残っていて、あれこれしているうちに三十分はゆうに過ぎてしまった。出発は五時近くになった。家の戸口には二匹の犬がいる。一匹は黒、一匹は白。白いほうは、ふだんは人が通ると音もなく駆け寄って、脅かすようなそぶりを見せる。ところが今朝は、そうしなかった。私も二匹に手を振って、別れを告げる。
空はいくらか曇っていた。この家の戸に鍵はない。だから私は部屋を出て、そっと戸を閉めるだけでいい。荷をスーパーカブに載せ、ホンダのファイナルエディションのヘルメットを急いでかぶり、農園に手を振って走りだした。この先には七十キロほどの峠道が待っていて、六時半には星野リゾートに着いていなければならない。だから長くは立ちどまれなかった。ただ、短いあいだであれ、心を寄せた場所を離れるとき、人はいつも名残を惜しむものらしい、とだけ思った。
02Ngắm mây trên đỉnh núi山の上で雲を見る
Chuyến đi sớm hôm nay mình ép bản thân dậy sớm vì muốn ngắm mây trên đỉnh núi. Người ta gọi là Unkai, tức biển mây, ở Hoshino Resort. Khu này sớm có hai điều thú vị: một là sáng sớm, hai là đêm hè. Sáng sớm thì có biển mây, còn đêm hè thì ngồi ngắm sao trời. Cả hai đều đẹp cái đẹp của tự nhiên. Trên đỉnh núi, mùa đông là khu trượt tuyết, mùa hè có quán cà phê (terrace), nơi những vị khách tới sớm trong khung giờ 4:00–8:00 có cơ hội ngồi thưởng thức cà phê trên mây.
Nói "cà phê trên mây" là đúng, vì nhìn ra xa ít thấy chân núi, chỉ thấy những ngọn núi của dãy Furano, Tokachi đứng xếp hàng, mây vờn xung quanh. Cái hay là mây không trùm lên hết. Ai đi máy bay sẽ thấy cái cảm giác dưới là mây, trên là trời quang. Cảm giác ở đây tương tự, chỉ khác là không phải ngồi trong khoang máy bay mà được bước ra ngoài. Đi dạo, ngồi đung đưa trên ghế; ai lười thì ngồi tại quán cà phê mở cửa từ sáng sớm, nhâm nhi li cà phê rồi thong dong ngắm mây.
Đường lên terrace không quá xa nhưng không leo bộ lên được. Mình cũng ngồi gondola mà lên. Dưới chân là hươu gặm cỏ, bên ngoài là tiếng chim hót. Mùa hè cây nhiều lá, thành ra chim chỉ hót, người chỉ nghe, còn không thấy bóng dáng chúng đâu. Ở Hokkaido này, chỉ mùa đông khi tuyết phủ trắng, chim phải ra ngoài kiếm ăn, lá cây lại đã rụng — những lúc đó mới thấy được chim. Nhưng điều lạ là khi thấy chúng thì những tiếng hót trong trẻo của mùa hè không còn nữa. Chúng không hót. Chúng chỉ đi kiếm ăn.
Đường lên biển mây này thực sự cũng không hề dễ. Mình phải chạy xe qua những cung đèo, có những đoạn tầm nhìn chỉ dưới 10m. Phóng xe mà không nhìn phía trước được, chỉ dám nhìn vạch vàng ở dải phân cách để đoán mình đã đi tới đâu. Mùa hè ở Hokkaido thật chẳng khác gì nơi người ta có thể trải nghiệm bốn mùa: đêm muộn mùa đông, sáng mùa xuân, lên trưa mùa hạ, sang chiều mùa thu. Nhưng bù lại cho sự vội vàng đó là một biển mây đẹp. Người ngắm biển mây từ 5 giờ sáng sẽ thấy nhiều mây hơn; mình không làm được điều đó nhưng vẫn thấy được mây. Cái hay không hẳn là mây, mà là hành trình đi tới gặp mây. Để kỷ niệm cho điều đó, mình ghé bưu điện trên mây, viết postcard gửi về cho hai cháu (con anh trai) ở nhà, mong các cháu đọc được và cố gắng với đam mê của mình.
今朝、無理に早く起きたのは、山の上で雲を見たかったからだ。人はそれを雲海と呼ぶ。星野リゾートのこの場所には、早朝ならではの楽しみが二つある。ひとつは夜明けの雲海、もうひとつは夏の夜の星空。どちらも、自然がつくる美しさだ。山の上は冬になればスキー場になる。夏のあいだは頂にテラスの喫茶がひらかれ、四時から八時のあいだに登ってきた客は、雲の上で珈琲を味わうことができる。
「雲の上で珈琲を」と言っても、大げさではない。遠くを見ても山裾はほとんど見えず、ただ富良野や十勝の山々が、背くらべをするように並んでいる。そのまわりを雲がゆるやかに巡っている。おもしろいのは、雲がすべてを覆いつくしてしまわないことだ。飛行機に乗ると、下は雲、上は晴れた空、という景色に出会うことがある。ここでの感じも、それによく似ている。ちがうのは、狭い機内にいるのではなく、外へ出てゆけることだ。散歩をし、揺り椅子に腰かけて揺れ、面倒なら早朝からあいている喫茶に座って、珈琲を口に運びながら、のんびりと雲を眺めればいい。
テラスへの道はそう遠くないが、歩いて登ることはできない。私もゴンドラに乗って上がった。足もとでは鹿が草を食んでいる。あたりには鳥の声。夏は木々の葉が茂るから、鳥は鳴くばかりで、その姿は見えない。この北海道では、雪が一面を白く覆う冬、鳥たちは餌を求めて外へ出てくる。葉の落ちたそのときにこそ、はじめて鳥の姿が見えるのだ。けれど不思議なことに、姿が見えるころには、夏のあの澄んだ声はもう聞こえない。鳥たちは鳴こうとしない。ただ、餌を探して歩くばかりだ。
この雲海へたどり着くまでの道のりも、けっしてたやすくはなかった。峠をいくつも越えてゆく。ときには視界が十メートルもないところがある。前が見えないまま車を走らせ、道の中央の黄色い線だけを頼りに、いまどのあたりを走っているのかを推し量る。北海道の夏の朝は、まるで一日のうちに四季をひととおり味わえる場所のようだ。深い冬の夜、春の朝、昼には夏、午後には秋。その慌ただしさの代わりに、美しい雲海が待っていてくれる。五時から眺める人は、もっと多くの雲に出会えるという。私にはそれはかなわなかったけれど、それでも雲を見ることはできた。ほんとうによいのは、雲そのものよりも、雲に会いにゆくまでの道のりなのかもしれない。その記念に、雲の上の郵便局に寄って、絵はがきを書いた。ふるさとの家にいる二人の甥へ宛てて。いつか読んでくれて、それぞれの好きなことに励んでくれたら、と願いながら。
03Cây khóc bên đường泣く木のこと
Dậy sớm đi đường khá mệt, dù tới Furano không quá xa, chỉ khoảng 80km. Mình chọn đường vòng vì không muốn quay ngược lại đoạn vào Hoshino Resort. Trên đường có một nơi mình muốn ghé. Nói "muốn ghé" thì nghe hơi sang; thực ra đó là một địa điểm vô tình lướt thấy trên bản đồ. Đó là cây Naku-ki — cây khóc.
Cây đứng ở mạn trái trên đường tới ga Tomamu, cách chỗ Unkai không xa, chỉ khoảng 15 cây số — đúng cữ dừng chân nghỉ sáng. Mình ghé lại gần và thấy hơi lạnh sống lưng. Cây đứng thẳng, có mấy vết nứt mục phản ánh màu thời gian. Phía dưới có một cái hộp, người ta để những đồng xu vào, như cách thường để trước các vị thổ địa ở đền. Cây không quá cao, nhưng nổi bật so với xung quanh bởi vóc dáng và độ xòe của tán.
Mình bắt đầu tìm hiểu. À, thì ra là thế. Đây là cây mà những năm 50–60, khi người ta tới vùng này khai phá, có những người đã định chặt đi. Trong đó có một cây phát ra tiếng khóc. Người ta đồn rằng cây này có linh hồn của một cô gái trẻ, một lòng với tình yêu nhưng yểu mệnh mà ra đi. Những người định chặt cây chỉ một thời gian ngắn sau đều gặp chuyện xui, rồi chết. Người ta thấy sợ, không chặt cây nữa. Thành ra cây còn tới bây giờ. Chuyện người ta kể hay chuyện có thật thì mình cũng không rõ.
Chiếc Cub dựng dọc đường. Mình định chụp hình cùng cây, nhưng lại nghĩ, bảo: cây ơi, nếu cho chụp cùng thì cây đừng khóc. Cây không khóc, nhưng rồi mình cũng không chụp. Mình bước đi trong sáng sớm trên cung đèo hướng tới Furano. Ở đó có Tomita Farm đang đợi.
早起きして走ったせいか、体はずいぶん疲れていた。富良野まではそう遠くない。八十キロほどだ。私は遠まわりの道を選んだ。星野リゾートへ入った道を、また引き返したくなかったからだ。その途中に、寄ってみたい場所がひとつあった。「寄ってみたい」と言うと少し立派に聞こえるが、じっさいは地図の上で、たまたま見つけた場所にすぎない。泣く木、という一本の木だ。
木は、トマム駅へ向かう道の左手に立っていた。雲海の場所からそう遠くはない。十五キロほどだ。朝の休みにちょうどよい距離だった。近づいてみると、背すじがすっと寒くなるような心地がした。木はまっすぐに立ち、幹にはいくつかの裂け目があって、朽ちた色が、そのまま時間の色をうつしていた。根もとには小さな箱が置かれ、人々が硬貨を入れている。神社の土地神の前に供えるのと、同じように。木はさほど高くはないが、その姿と、枝葉の広がりぐあいで、まわりからひときわ際立って見えた。
私は調べてみた。なるほど、そういうことか。これは、昭和三十年代、この土地を開拓しにきた人々が切り倒そうとした木のひとつなのだという。そのなかに、泣き声をあげた木があった。この木には、ひとりの若い娘の魂が宿っているといわれている。ひとすじに人を思いながら、若くして世を去った娘の魂が。木を切ろうとした人々は、ほどなく不運に見舞われ、命を落としたという。人々は恐れて、もう木を切らなくなった。だから木はいまも残っている。語り継がれた話なのか、ほんとうにあったことなのか、私には分からない。
カブを道ばたに停めて、木といっしょに写真を撮ろうと思った。けれど、ふと考えなおした。木よ、もし撮らせてくれるなら、どうか泣かないでおくれ、と。木は泣かなかった。けれど私も、けっきょく撮らなかった。そうして朝の峠道を、富良野に向けて歩きだした。その先には、ファーム富田が待っている。
04Tới Tomita Farmファーム富田へ
Đi từ sớm, hôm trước ngủ cũng không được nhiều, thành ra người hơi mệt. Mình không dám chạy nhanh, dù có những đoạn đường đẹp và thẳng tăm tắp — cái tay tự lúc nào bật mode tẹt ga (chạy tối đa). Cơ mà chiếc Cub nhỏ, chất nhiều đồ, nên chỉ tối đa được 60km; lên dốc thì chậm hơn. Thế lại hay: thong dong mà ngắm cảnh đường đèo, kịp ngồi nghe tiếng nước chảy, tiếng chim hót bên đường, đôi khi lắng nghe tiếng gió, hoặc nhìn những đám mây có vân đặc thù ven đỉnh núi.
Ai đi Hokkaido cũng phải mò tới những cánh đồng hoa. Ở đây nổi tiếng với lavender. Những bông hoa tím mọc trên sườn đồi, đẹp và thơ mộng. Cái tên nghe có vẻ châu Âu, kiểu tên một cô gái Pháp, nhưng lavender được trồng ở Nhật. Trước đây, ở Nhật — cụ thể là Hokkaido — lavender được trồng rất nhiều; nhưng sau 1970, khi hương liệu tổng hợp ra đời, hương liệu tự nhiên không cạnh tranh được, người dân ở đây phải bỏ đi những vườn hoa họ trồng. Ngồi ở tầng hai, xem lại tư liệu của những câu chuyện đó, mình thấy có nước mắt của những người nông dân. Họ làm không hẳn vì lợi nhuận. Những cánh đồng hoa với họ là một phần cuộc sống. Mỗi năm hè tới, hoa nở lưng đồi, ngắm rồi hái về làm tinh dầu — ai mà không thích.
Hồi xưa những cảnh đẹp này chỉ dành cho người ở nông trại. Mãi sau này, khi Tomita là nông trại duy nhất trồng lavender quy mô lớn, họ mới mở cửa cho khách vào tham quan. Đứng trên đỉnh đồi, nhìn ra xa là những chiếc ô tô lon ton trên cánh đồng bạt ngàn, xen ngang những căn nhà kiến trúc Âu, bao quanh bởi dãy núi. Người ta có cảm giác như tới trời Âu trên đất Nhật. Tomita Farm là nơi để cảm nhận một vẻ đẹp không chỉ của thời gian và không gian — ở đây còn có mùi của những người nông dân làm tinh dầu đã tồn tại gần trăm năm.
朝早くから走り、前の晩もあまり眠れていなかったから、体は少し疲れていた。だから速くは走らなかった。まっすぐで美しい道に出ると、手はいつのまにか、ひとりでにアクセルを開ききってしまう。けれど小さなカブに荷をたくさん積んでいるから、出せてもせいぜい六十キロ。坂を登るときは、もっと遅くなる。それがかえってよかった。ゆっくりと峠の景色を眺め、道ばたの水の音や鳥の声に耳をすませ、ときには風の音を聞き、山の稜線に浮かぶ、あの独特のうろこ雲を見ることができたのだから。
北海道へ来た者は、だれもが花畑をたずねる。ここで名高いのはラベンダーだ。むらさきの花が、丘の斜面いちめんに咲いている。その名はどこかヨーロッパふうで、フランスの娘の名前のようにも聞こえる。けれどラベンダーは、日本で育てられている。かつて日本、とりわけ北海道ではラベンダーがさかんに栽培されていた。ところが一九七〇年ごろ、合成香料が生まれると、自然の香料は太刀打ちできなくなった。この土地の人々は、丹精した花畑を手放さなければならなかった。二階でその頃の資料を見ながら、私は農家の人々の涙を思った。彼らは、ただ利益のために花を育てていたのではないだろう。花畑は、暮らしそのものの一部だったのだ。夏がくるたびに丘の斜面いっぱいに花が咲き、それを眺め、摘んで精油にする――そんな暮らしを、だれが手放したいと思うだろう。
むかしは、この美しい景色は農園の人たちだけのものだった。ずっとのちになって、富田が大きな規模でラベンダーを育てるただ一軒の農園になったとき、はじめて客を迎え入れるようになった。丘の上に立って遠くを見わたすと、広々とした畑のあいだを車が小さく這うように進み、その合間に西洋ふうの家が点在し、まわりを山々が囲んでいる。日本の土地にいながら、ヨーロッパに来たような心地になる。ファーム富田は、時間と空間の美しさだけでなく、百年近くつづいてきた、精油をつくる人々の匂いのする場所だった。
05Đồi lúa mạch Biei美瑛パッチワークの丘
Chuyến này tính ghé hồ xanh, nhưng thật sự thể lực không cho phép. Mình chọn chạy về hướng Asahikawa và đi cung Patchwork Road. Mình cũng chưa xem kỹ thông tin, chỉ biết đây là nơi đáng xem theo lời những người chạy xe phượt Hokkaido. Mình tin họ nói đúng. Rồi lon ton trên những cung đường.
Đường Biei thẳng và đẹp. Ruộng ở đây khác với Tokachi: không rộng như vùng Tokachi nhưng đồi thoải hơn và có những mảng màu đẹp. Có những khu không phải ruộng bậc thang, nhưng trời phú cho những đoạn đồi thoải nên có những ngôi nhà nhỏ ở lưng đồi. Có nhà thì có đường. Thi thoảng xuất hiện những chiếc xe Kei (xe hạng nhẹ) màu trắng hoặc đen, rồi cả những chiếc xe camp gầm cao, lon ton trên sườn đồi trông không khác gì xe chạy trên ruộng bậc thang. Vì đồi và đất rộng nên khi những chiếc xe chạy 60–100km nó vẫn cứ như bò bò, trông như cảnh quay rất chậm. Người ta càng thấy chậm khi đứng ở một góc xa. Chiếc Cub của mình cũng không nhanh, nhưng vì chạy cùng chiều nên càng thấy những chiếc xe đó lon ton khi liếc mắt nhìn sang ngang.
Rồi vô tình chiếc xe vào một cung đường, phía xa xa trên đỉnh đồi tự dưng có rất nhiều xe đạp dựng rạp vào bên đường. Men lên đỉnh đồi thoải là mấy cô gái mặc váy ống rộng, đội mũ vành rộng, thi thoảng đưa tay giữ mũ, bước đi thong thả kiểu những tiểu thư. Ồ, hóa ra đây là đồi lúa mạch, đẹp quá. Tự dưng thấy háo hức, mình phóng xe lên đỉnh đồi. Người ta cũng cố ý làm mấy khu đất rộng ven đường để lữ khách tạm dừng chân ngắm cảnh. Mình ghé vào một bên, lấy thanh gỗ dày chừng 5cm đỡ lấy chân chống xe rồi dừng tạm. Đứng lên trên cái bánh xe tải người ta để ven đường — chắc có ai đã nghĩ, đứng trên bánh xe này cao thêm một chút, nhìn từ trên cao xuống sẽ đẹp. Đẹp thật. Đẹp vì sự đồ sộ và những mảng màu xanh và vàng đan xen. Tầm mắt được lan rộng. Dưới lưng chừng đèo thi thoảng có mấy căn nhà nhỏ, mái ngói màu đỏ, tường màu đỏ, khác hẳn những mảng màu của nhà Nhật truyền thống. Ngày xưa mình nhớ có bộ phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, nhưng phim cũ, hoặc tại máy quay ngày đó, nhìn chỉ thấy màu nâu và vàng nhạt. Ở cái đồi này có chút gì đó là thước phim ấy, nhưng màu sắc rõ và nét hơn. Chạy xe đường dài, đôi khi có những món quà đến bất ngờ, đẹp theo cách không tưởng, khiến người ta tỉnh ngủ hơn một tách cà phê đặc.
この旅では青い池にも寄るつもりでいた。けれど、どうにも体力がゆるさなかった。私は旭川の方へ向かい、パッチワークの路を走ることにした。詳しく調べたわけではない。ただ、北海道をめぐる旅人たちが、ここは見る値打ちがあると言うのを知っていただけだ。その言葉は、正しかったと思う。
美瑛の道はまっすぐで、美しい。ここの畑は十勝のそれとはちがう。十勝ほど広くはないけれど、丘がゆるやかで、色のあわいが美しい。棚田のような段々ではないが、天のはからいか、ゆるやかな起伏があって、丘の中腹に小さな家々が建っている。家があれば、道がある。ときおり白や黒の軽自動車が、あるいは車高の高いキャンピングカーが、丘の斜面をのんびりと走ってゆく。棚田を走る車のようにも見える。丘も土地も広いから、六十キロ、百キロで走っていても、まるでゆっくりとした映像のように、のろのろと這っているように見える。遠くから眺めれば、なおのことそう見える。私のカブもそう速くはないけれど、同じ方向へ走っているから、横目に見ると、あの車たちがいっそうのんびりして見えた。
そうして走るうちに、ふと一本の道へ入った。遠くの丘の上に、たくさんの自転車が道ばたにずらりと立てかけてある。ゆるやかな丘を登ってゆくのは、裾の広がったスカートに、つばの広い帽子をかぶった娘たちで、ときおり手で帽子をおさえながら、令嬢のようにゆったりと歩いている。ああ、ここが麦の丘か。あまりに美しくて、私は胸が高鳴り、丘の上までカブを走らせた。道ばたには、旅人がひと休みできるようにと、わざわざ広くとった場所がしつらえてある。私はその一角に寄せた。厚さ五センチほどの木の板を出して、スタンドの足を受けさせ、しばし停める。道ばたに置かれたトラックの車輪の上に、立ってみた。だれかが考えたのだろう。この車輪の上に立てば、もう少し高くなって、上から見おろせば美しいはずだ、と。ほんとうに美しかった。その雄大さ、そして緑と黄の色が、互い違いに織りなす様子ゆえに。視界がぐんと広がる。峠の中ほどには、ときおり小さな家がある。赤い瓦、赤い壁。日本の伝統の家の色あいとは、まるでちがう。むかし観た「大草原の小さな家」という映画を思い出した。あの映画は古く、あるいは当時のカメラのせいか、茶色と淡い黄色ばかりが見えていた。この丘には、あの映画に似た何かがある。ただ、色はもっとくっきりと鮮やかだ。長い道を走っていると、思いもよらぬ贈りものが、思いもよらぬかたちで、美しく訪れることがある。それは、濃い一杯の珈琲よりも、人の眠気を覚ましてくれる。
06Đêm đầu dựng lều夕暮れ前の野営地
Nay là ngày đầu tiên mình chọn ở lều. Chuyến đi lần này là chuyến đi tu hành — hay nói dân dã hơn, là chuyến đi của một người sống tiết kiệm (không hà tiện). Thành ra mình chọn ở những nơi chi phí rẻ, còn tiền để dành cho những trải nghiệm mang màu sắc địa phương. Nơi mình chọn là những bãi camp site, free space — tức những công viên có khu cắm trại. Vì ngày đầu nên mình không dám tới trễ. Hơn bốn rưỡi chiều, sau khi mua ít đồ ở siêu thị gần đó, mình đã tới camp site. Nơi đây là công viên trượt tuyết, đất rộng. Mé trên có mấy căn nhà gỗ dành cho khách có tiền, họ ngủ tại đó. Mình chọn khu free, giá chỉ 500 yên một đêm: được bỏ rác miễn phí, được dùng nước, được dùng xe đẩy, được đậu xe miễn phí, và được bảo vệ khỏi những con thú lớn.
Mình xếp đồ và dựng lều. Dựng không quá khó vì lều của mình kiểu pop-up, mở ra là thành lều; cơ mà tính ra cũng phải mất công với những món đồ mang theo. Lần đầu nên có nhiều bỡ ngỡ. Cơ mà không quá tệ, vì mọi thứ diễn ra thật suôn sẻ, dù hơi mất thời gian. Đêm xuống, mấy lều góc bên lên đèn, nướng thịt và trò chuyện, uống bia. Phía xa xa có một cô trung niên cũng đi camp một mình. Mình chọn dựng lều ở một góc đối diện. Ăn tạm chút đồ, trò chuyện với mấy người bạn rồi đi ngủ sớm, vì bữa nay dậy sớm và chạy xe đường dài.
今日は、はじめてテントで眠る日だ。今度の旅は、いわば修行の旅――もっとくだけて言えば、倹約して(けちではなく)生きる者の旅だ。だから宿は安いところを選び、そのぶんのお金は、その土地ならではの体験のために取っておく。私が選ぶのは、キャンプ場や、フリースペース――つまり公園のような、野営のできる場所だ。はじめての晩だから、遅く着くのは避けたかった。四時半すぎ、近くのスーパーで少し買い物をしてから、私は野営地に着いた。ここは冬はスキー場になる公園で、土地が広い。上のほうには、余裕のある客のための木の小屋がいくつか建っていて、人はそこで眠る。私はフリーの区画を選んだ。一晩でわずか五百円。ごみは無料で捨てられ、水も使え、荷を運ぶ台車もあり、駐車も無料で、大きな獣からも守ってもらえる。
荷を並べ、テントを張る。私のテントはポップアップ式だから、張るのはむずかしくない。ひろげれば、それでテントになる。とはいえ、持ってきた道具のあれこれで、それなりに手間はかかった。はじめてのことで、とまどうことも多い。それでも、そう悪くはなかった。少し時間はかかったけれど、何もかもがすんなりと運んだのだから。夜がおりると、隅のほうのテントでは灯りがともり、肉を焼き、語らいながらビールを飲んでいる。遠くには、ひとりで野営に来たらしい中年の女性の姿もあった。私はその向かいの一角にテントを張った。ありあわせのものを少し口にし、近くの人たちと言葉を交わして、早めに眠りについた。今日は早くに起き、長い道を走ったのだから。
07Nửa đêm, cáo và quạ真夜中、狐とカラス
9h tối mình tắt đèn đi ngủ. Gọi là tắt đèn chứ thực ra chẳng có cái đèn nào — chỉ là tắt điện thoại thì đúng hơn. Hơn 12h đêm, mình giật mình bởi những tiếng sột soạt. Mình biết có mấy con vật lạ đang ngồi cắn xé mấy cái túi rác để ngoài lều. Trong đó có mấy cái xương gà. Cơ mà mình không dậy, tự nhủ thôi kệ chúng đi — phần vì ngại dậy khi ngái ngủ, phần vì bảo mọi chuyện đã rồi, để mai tính. Nhưng tiếng sột soạt càng lúc càng lớn, nghe được cả tiếng xé túi rác. Chắc chắn chúng đã cắn nát. Mình bật dậy, cầm chìa khóa có gắn đèn pin rọi ra thì thấy một cặp mắt xanh, cái mỏ nhọn, màu lông vàng. Khả năng là cáo, cũng không loại trừ con mèo — nhưng mình cá là cáo. Chúng đã cắn tan tác. Còn lại mấy mảnh, mình nhặt vội mang vào trong lều rồi kéo khóa lều lên.
Tưởng mọi chuyện đã ổn. Mình vẫn để đôi dép và túi rác chỉ có hộp đồ ăn rỗng cùng mấy lon nhựa ngoài lều. Ấy vậy mà một lát sau lại có mấy con quạ — mình đoán là quạ — ghé vào sát lều rồi tha đi. Mình thức dậy, giật mình thấy đôi dép chỉ còn một chiếc. Lũ quạ tha đi mất rồi. Nhưng thôi, kệ chúng đi. Có cái gì còn ngoài lều mình mang hết vào trong. Mọi thứ như mớ bòng bong, cơ mà để ngủ ngon thì làm thế cũng được.
九時に灯りを消して眠りについた。灯りを消すといっても、じっさいには灯りなどない。携帯電話を消した、と言うほうが正しい。真夜中、十二時をまわったころ。かさこそという音に、はっと目が覚めた。何かの獣が、テントの外に置いておいたごみ袋を、しきりに噛みちぎっているのが分かった。袋のなかには、鶏の骨が入っている。それでも私は起きなかった。放っておこう、と思った。半分は、眠くて起きるのが億劫だったから。半分は、もう起きてしまったことは仕方がない、あすになってから考えよう、と思ったから。けれど、かさこその音はしだいに大きくなる。袋を破る音まで聞こえてくる。きっともう、ずたずたにされているにちがいない。私は起きあがった。懐中電灯のついた鍵を手にとって外を照らすと、青い目と、とがった口さきが見えた。毛の色は黄色。おそらく狐だろう。猫ということもないではないが、私は狐だと思う。袋は、さんざんに噛みちぎられていた。残ったいくつかのかけらを、私は急いで拾いあつめ、テントのなかへ入れて、ファスナーを引きあげた。
これでもう大丈夫だろうと思った。私は履きものと、空の弁当箱やプラスチックの缶だけを入れたごみ袋を、なお外に置いたままにしていた。ところがしばらくすると、今度は数羽のカラスが――たぶんカラスだ――テントのすぐそばまでやってきて、何かをくわえて去っていった。目を覚まして、私はぎょっとした。履きものが片方しかない。あのカラスどもが、くわえていってしまったのだ。けれど、まあいい、放っておこう、と思う。外に残っているものを、私はぜんぶテントのなかへ入れた。あたりはしっちゃかめっちゃかだったが、ぐっすり眠るためなら、それでもよかった。
08Thức dậy cùng bình minh夜明けとともに
Sớm dậy, việc đầu tiên mình làm là nhặt những mảnh rác con cáo cắn xé tối qua. Đất xung quanh màu xanh, có đốm trắng của cỏ, thành ra mấy mảnh rác vụn cũng dễ tìm. Mình nhặt được và cất bỏ. Ở đâu đó cũng có một kỳ vọng: biết đâu chiếc dép bị tha đi, con quạ lại bỏ ở đâu đó. Ồ, đúng vậy. Cách đó chừng 50 mét, phía đối diện chiếc Super Cub, lũ quạ thả dép và túi rác xuống đó. Mình nhặt lấy và thấy mấy cái lỗ trên dép — bọn quạ đã mổ và cắn chiếc dép này. Nay nhìn lại thấy thương cái dép, nhưng lại thấy cảm ơn chúng vì một kỷ niệm không gì buồn cười hơn. Tổ sư lũ quạ.
Tranh thủ lúc sáng sớm, mình ghé khu ghế gỗ ở giữa khu đất, nhâm nhi mấy quả chuối mua vội chiều qua và ngồi viết lại mấy ghi chú. Thế mà cũng đã bảy giờ. Mấy khu trại xung quanh đã dọn sạch, chỉ còn lại mình và trại của hai bác người Nhật. Mình mon men lại gần bắt chuyện khi đi lên mé đồi để đi vệ sinh.
Hai bác tên Nakayama, đến từ Hyogo. Mình ngồi bắt chuyện, và thật tình cờ, hai bác bữa qua cũng ghé ngọn núi Asahidake. Hai bác kể cho mình hướng đi, những gì thấy được trên đỉnh núi. Rồi cả câu chuyện về hãng Mont Bell — một công ty chuyên về dụng cụ lều trại và đồ outdoor. Bác đã làm cho công ty được 42 năm, mà tuổi đời công ty là 50 năm: từ một công ty nhỏ nay đã thành hơn 3000 người, với nhiều công ty OEM ở Trung Quốc và có cả Việt Nam. Hai bác đi trên chiếc xe gầm cao, trên mái có một khung để đồ. Hai bác có màu da của những người khỏe khoắn. Gần về hưu mà hai bác vẫn đi cùng nhau trên những chuyến dã ngoại. Đêm nay bác sẽ tới cảng Otaru để bắt tàu về Kyoto rồi về Hyogo. Đời người nhanh như một cơn gió. Chắc hai bác đã đi cùng nhau trên nhiều chặng đường dài. Mình cũng vội thu dọn đồ, chuẩn bị cho chuyến đi tiếp theo. Xe Cub chào xe ô tô và lên đường.
朝早く目を覚まして、まずしたことは、ゆうべ狐が噛みちぎったごみのかけらを拾うことだった。あたりの地面は緑で、白い野の草が、まだらに散っている。だから噛みちぎられたかけらも、見つけやすかった。ひとつずつ拾って片づける。心のどこかで、ひょっとしてカラスがくわえていった履きものが、どこかに落ちてはいないかと、淡い期待もあった。――はたして、そのとおりだった。五十メートルほど先、スーパーカブの向かいのあたりに、カラスたちは履きものとごみ袋を落としていた。拾いあげてみると、履きものにはいくつも穴があいている。カラスどもが、この履きものをつつき、噛んだのだ。いまあらためて見ると、履きものが哀れにも思えたが、これほどおかしな思い出をくれたカラスたちには、むしろ礼を言いたくもなった。まったく、このカラスどもめ。
朝の早いうちに、広場のまん中の木のベンチに寄る。ゆうべ急いで買ったバナナをかじりながら、書きとめておきたいことを書き記す。そうしているうちに、もう七時になっていた。まわりの野営地は、すっかりきれいに片づいている。残っているのは、私と、日本人の二人連れのテントだけだった。私は用を足しに丘のほうへ登るついでに、そっと近づいて声をかけた。
二人は中山さんといい、兵庫から来たという。腰をおろして話すうちに、なんという偶然だろう、お二人も昨日、旭岳に登ってきたばかりだった。頂への道のこと、そこで見たものを、いろいろと教えてくださる。それから、モンベルという会社の話になった。テントやアウトドアの道具をつくる会社だ。ご主人は、その会社に四十二年勤めてこられたという。会社の齢は五十年。小さな会社からはじまって、いまでは三千人を超え、中国に、そしてベトナムにも協力工場をもつまでになったそうだ。ご主人は車高の高い車に乗り、屋根には荷を積む枠を載せていた。お二人とも、よく体をつかう人らしい、健やかな肌の色をしている。定年が近づいたいまも、こうして連れだって旅に出ている。今夜は小樽の港へ向かい、船に乗って京都へ、それから兵庫へ帰るのだという。
人の一生は、一陣の風のように速い。お二人はきっと、これまでも長い道のりを、ともに歩んでこられたのだろう。私も急いで荷をまとめ、次の旅の支度をする。カブが車に別れを告げ、また道へ出た。