Hồ Ma Chu ・ 摩周湖という友 — Thợ Rèn
HOKKAIDO ・ ĐÈO SHIRETOKO & HỒ MASHU北海道 知床峠と摩周湖

Hồ Ma Chu摩周湖という友

Từ sương mù ra nắng, và một đêm lều chỉ có một mình霧を抜けて晴れへ、そしてひとりの夜

01Sợ quần áo bị cáo tha狐に持っていかれぬように

Buộc cả ba món lại cho nặng, phòng khi cáo nghịch狐に持っていかれぬよう、三枚をひとつに結わえる

Trại nằm sát biển nên sáng nào sương cũng dày. Bạn Saito và bác Muramoto dậy sớm chạy đường dài. Mình cũng dậy sớm, dọn dẹp qua loa rồi mang mấy món đồ phơi hụt hôm qua ra khu BBQ.

Khu này giống mọi khu BBQ khác ở Hokkaido: một dãy nhà mái chữ V, chia thành từng ngăn, mỗi ngăn một bộ bàn ghế và một chỗ nướng. Tất cả bằng gỗ. Ở quê mình đồ gỗ là đồ đắt tiền, còn giữa rừng núi này gỗ gần như không mất tiền, chỉ mất công chặt và công gia công.

Đêm qua gió biển lùa vào, thổi theo những hạt mây bé ti tí. Cái quần jean, cái áo phông vẫn ẩm nguyên. Mình buộc cả ba món lại với nhau cho nặng, phòng khi cáo có nghịch thì cũng không tha đi mất.

Cáo không tha. Nhưng ướt thế này thì nhét vào đâu trên xe cũng dở.

Buổi sáng mọi người dậy sớm cả. Chủ nhật nên có kha khá gia đình. Ở những chỗ cắm trại thế này, người chủ động sang bắt chuyện thường là dân đi solo. Mấy lều bên cạnh cũng qua lại với nhau, kể cho nhau chỗ này chỗ kia — nào là Shikaribetsu có suối nước nóng lộ thiên ngắm được hươu nai, có khi cả gấu, mà lại miễn phí. Chuyện như thế nhiều lắm. Chỉ cần bước sang, tự khắc có kết nối. Và chỉ một mẩu thông tin thôi cũng đủ làm lệch cả một chặng đường.

野営地は海のそばにある。だから朝はいつも霧が濃い。斉藤さんと村本さんは早くに起きて、長い道を走りに出ていった。私も早くに起きる。ざっと片づけて、昨日干しそこねた洗濯物を抱え、バーベキュー場へ運ぶ。

ここのバーベキュー場も、北海道のほかの場所と変わらない。V字の屋根が一列に並び、いくつかの区画に仕切られ、区画ごとに机と椅子と、火を熾す場所がある。すべて木でできている。私の国では、木の道具は高い。この山のなかでは、木はほとんど只だ。かかるのは、伐る手間と、削る手間だけ。

昨夜は海から風が吹きこんで、雲のかけらのような細かい粒を運んできた。ジーンズもTシャツも、湿ったままだ。三枚をひとつに結わえる。重くしておけば、狐がいたずらをしても、持っていかれることはない。

狐は持っていかなかった。けれど、この湿りようでは、荷のどこに入れても始末が悪い。

朝は、みな早く起きる。日曜だから、家族連れも少なくない。こういう野営地で、先に声をかけてくるのは、たいてい一人で来ている者だ。隣のテントの者どうしも行き来して、あそこがいい、ここがいい、と教えあう。然別には露天の湯があって、鹿が見える、運がよければ熊も見える、しかも只だ、というふうに。そんな話は、いくらでもある。こちらから歩いていけば、それでつながる。そして、たったひとつの話が、道筋をまるごと変えてしまうことがある。

02Hướng tới chân đèo峠のふもとへ

Trời còn mờ, sương còn dày, tầm nhìn chừng ba bốn chục mét. Nhưng hôm nay phải chạy khoảng hai trăm cây: Odaito — Rausu — mũi Shiretoko — Mashuko — trại Mashu no Mori. Mình cố xuất phát trước tám giờ.

Đường từ Odaito ra Rausu là đường bao biển, mà gần như không thấy biển. Chỉ thấy mây. Thi thoảng hiện ra mấy con thuyền nằm trên cạn — dọc đây là làng chài, những chiếc thuyền nhỏ ấy là cần câu cơm của người ta.

Đường bao biển vốn chỉ đẹp vào ngày nắng. Nhưng mình không đợi được ngày nắng, vì đích đến hôm nay là con đèo cắt ngang công viên quốc gia Shiretoko, mà sáng nay live camera trên đỉnh báo trời quang.

Gió lùa qua đôi găng mỏng. Trong cái lạnh ấy mình chợt nghĩ: nếu mọi thứ trên đường đều trọn vẹn thì cái đích cuối cùng đã chẳng còn là cái đáng nhớ nhất. Phải có chỗ chưa đầy, người ta mới vấn vương.

Mà sương mù sớm mùa hạ, trắng, ôm lấy những thân cây cũng trắng — cũng đâu đến nỗi nào.

空はまだ薄暗い。霧は濃く、見えるのは三、四十メートル先まで。それでも今日は二百キロを走らねばならない。尾岱沼、羅臼、知床岬、摩周湖、そして摩周の森の野営地。八時前には出たかった。

尾岱沼から羅臼への道は、海沿いの道だ。それなのに、海はほとんど見えない。見えるのは雲ばかり。ときおり、陸に上げられた小さな舟が現れる。このあたりは漁師の村で、あの小さな舟が、人々の暮らしの道具なのだ。

海沿いの道は、晴れた日にこそいい。けれど私は晴れを待てなかった。今日の行き先は、知床の国立公園を横切る峠だ。その峠のライブカメラが、今朝は空が澄んでいると告げていた。

薄い手袋のあいだを風が通る。その寒さのなかで、ふと思った。道のすべてが満ち足りていたなら、終点は、いちばん心に残る場所ではなくなってしまう。欠けたところがあるから、人はあとを引くのだ。

それに、夏の朝の霧は白く、白い幹の木々を抱いている。悪くはない。

03Người Kansai và tấm ảnh trên đỉnh đèo関西の人と、峠の写真

Lỡ mất mấy chục cây số đường biển. Chưa kịp tiếc thì đã tới michi-no-eki Shiretoko Rausu.

Mình tới lúc hơn chín giờ, hàng quán vừa mở. Các điểm dừng chân ở Hokkaido thường mở cửa từ chín giờ, nên chạy chừng một hai tiếng buổi sớm rồi ghé vào là vừa đẹp: có thể thong thả làm ấm người bằng một bát mì, hoặc ít nhất một ly cà phê. Mình chọn cà phê, lên tầng trên ngồi xem tư liệu.

Trước đó ở dưới sân mình có bắt chuyện với một chị chắc ngoài bốn mươi, người nhỏ, giọng Kansai. Chị bảo trên đỉnh đèo đang nắng, còn mở ảnh ra cho xem. Chị tên Michimoto Rie (道本 利恵).

Không hẳn là cái giọng Kansai, mà là cái cách nói chuyện — nó thoải mái. Trong câu chuyện có những tiếng cười "ha ha" rất sảng khoái. Người ta bảo ở Nhật càng đi xuống phía nam thì người càng thân thiện. Chắc câu ấy phải lấy Tokyo làm điểm xuất phát, chứ không phải Hokkaido.

Trò chuyện một lúc, chị Michimoto chụp ảnh với con cub, rồi bảo cho hai cái xe đứng chụp chung. Hôm qua mưa nên bánh xe được đường rửa hộ, cả con cub lẫn cái mô tô phân khối lớn của chị đều sạch bong. Tạch. Tạch.

Hành trình không chỉ có con người. Xe cũng cần có bạn. Và mình học được một điều khi nhìn tấm ảnh chị chụp trên đỉnh đèo hôm trời quang: đừng quên chụp cho bạn xe của mình một tấm cho ra tấm.

Ở đây có cá heo nhảy, có hươu chạy ngoài đường, có gấu ra dọa người. Nhưng hôm nay mây dày quá. Mình uống nốt cà phê, đóng con dấu vào cuốn sổ rồi lên đường.

海沿いの数十キロを、取り逃がした。惜しむ間もなく、道の駅「知床・らうす」に着く。

九時を回っていた。店は開いたばかりだ。北海道の道の駅は、たいてい九時から開く。だから朝のうちに一、二時間走って、それから寄る。それがちょうどいい。温かい蕎麦なり、せめて温かい珈琲なりで、体を戻すことができる。私は珈琲を選び、二階へ上がって資料を見た。

その前に、下の広場で一人の女の人と話をした。四十をいくらか過ぎたくらい。小柄で、関西の言葉を話す。峠の上は晴れている、と彼女は言い、写真まで見せてくれた。道本利恵さんという。

関西の言葉というより、話しぶりだった。ゆるやかなのだ。話のあいだに、はは、という笑い声が幾度も混じる。日本は南へ下るほど人があたたかい、と人は言う。あれは東京を起点にした話だろう。北海道を起点にした話ではない。

しばらく話して、道本さんはカブの写真を撮った。それから、二台を並べて撮ろう、と言った。昨日の雨が、道が、タイヤを洗ってくれていた。私のカブも、彼女の大きなバイクも、汚れひとつない。かしゃ。かしゃ。

旅にいるのは、人だけではない。車にも、連れがいる。峠の上の、晴れた日の写真を見ながら、私はひとつ覚えた。連れの写真は、ちゃんと撮ってやること。

ここには跳ねる海豚がいて、道を走る鹿がいて、人を脅かす熊がいる。今日は雲が厚い。珈琲を飲みほし、帳面にスタンプを押して、私は出た。

04Đứng giữa điểm giao三重点に立つ

Trái sương, phải sương, sau lưng là biển sương — trước mặt là trời quang左も右もうしろも霧。正面だけが澄んでいる

Từ điểm dừng đi một quãng ngắn là tới chỗ rẽ lên núi. Và ở đúng cái ngã rẽ ấy, mình gặp một cảnh không sao lý giải nổi.

Rẽ trái vào đường núi. Bên phải: núi chìm trong sương. Bên trái: núi, sương mỏng hơn. Sau lưng: mặt biển đặc một màu sương. Còn trước mặt: trời quang, xanh, có mây nhưng là thứ mây trắng tinh, không phải trắng của mây mưa.

Mình đang đứng ở một điểm giao. Và mình biết chắc, cứ theo đường này mà đi là sẽ tới chỗ nắng.

Cái đáng nghĩ nằm ở chỗ đó. Giống như giản đồ pha của vật chất — rắn, lỏng, khí — bao giờ cũng có một điểm mà cả ba thể cùng tồn tại. Chỗ mình đang đứng chẳng phải là một điểm ba như vậy hay sao. Ở đó, chỉ cần điều kiện bên ngoài xê dịch một chút thôi, cảnh sắc đổi hẳn.

Ồ, hóa ra là vậy. Những nơi chuyển biến lớn nhất lại là những nơi dao động nhiều nhất. Vật chất như thế, cảnh sắc như thế, thì đời người hẳn cũng có những lúc như thế.

Muốn tới điểm đó thì phải đi qua mây mù.

Còn bây giờ, con đường được coi là đáng đi nhất Hokkaido đang đợi phía trước. Cứ đi là gặp nắng. Đi nào.

道の駅から少し走ると、山への分かれ道に出る。その分かれ道で、私は説明のつかない景色に出会った。

左へ折れて、山の道に入る。右には、霧に沈んだ山。左には、霧のいくらか薄い山。うしろには、霧でひとつづきになった海。そして正面には、澄んだ空。青い。雲はあるが、それは白い雲で、雨の雲の白ではない。

私はいま、境目に立っている。そして、この道を行けば晴れに出る、とはっきり分かる。

考えさせられたのは、そこだ。物質の相図には、固体があり、液体があり、気体がある。そして、その三つが同時に存在する一点が、かならずある。いま私が立っているのは、その三重点ではないのか。そこでは、外の条件がほんの少し動くだけで、景色がまるごと入れ替わってしまう。

なるほど、そういうことか。いちばん大きく変わる場所は、いちばん揺らぐ場所でもあるのだ。物質がそうで、景色がそうであるなら、人の一生にも、そういう時があるにちがいない。

その一点にたどり着くには、霧を抜けねばならない。

いまは、北海道でいちばん走る値打ちのある道が、前で待っている。行けば、晴れる。行こう。

05Lưng chừng núi lưng chừng đèo山の中腹、峠の途中

Đèo Shiretoko — dốc 7,8%, giới hạn 30 km/h, và con cub gài số 2知床峠 ― 勾配七・八パーセント、二速のカブ

Công viên quốc gia, lại là di sản thiên nhiên thế giới, có khác.

Đường dốc. Hôm qua Saito đã dặn trước: đường này thì tuyệt, nhưng cub sẽ vất. Đúng là vất thật. Gần như cả chặng mình gài số 2 với số 3. Số 2 mình ít khi dùng, chỉ để dành cho dốc — mà hôm nay thì dùng hết công suất.

Đường men theo sườn núi, có những dòng nước chảy dọc. Mình gọi là dòng nước, chứ chắc người ta gọi chúng là sông. Chỗ dốc gắt nhất tới 7,8%, mặt đường phải rạch những đường lằn cho tăng ma sát. Có đoạn giới hạn tốc độ 30 km/h. Quá hợp: con cub gồng lắm cũng chỉ được bốn chục. Cứ như người ta sắp đặt sẵn cho một chiếc xe lon ton bò trên lưng chừng núi.

Chạy chừng mười phút thì tầm mắt mở ra. Trời quang hẳn. Bên sườn núi giờ đã phóng thẳng ra biển lớn. Ven đường còn những mảng tuyết đọng lại thành từng vệt trắng. Trên ti vi người ta hay chiếu cảnh gấu mẹ dắt gấu con đi men theo mấy vệt trắng ấy. Bây giờ nó ở ngay trước mặt.

Đèo này không chỉ có ô tô với mô tô. Còn có người đi bộ. Trời không nắng gắt, vậy mà có mấy người cởi trần, lực lưỡng, cứ thế mà đi. Không ai quên đeo chuông đuổi gấu — vùng này nổi tiếng là nơi nhiều gấu nhất Nhật Bản. Đường leo núi gần đây mới mở lại, nhưng ti vi vẫn thi thoảng đưa tin có người bị gấu tha đi.

Cũng sợ chứ. Nên mình không dừng giữa chừng. Một phần vì sợ gấu. Một phần vì phía trước là con đèo mà ai đến Hokkaido cũng muốn bước qua.

Phóng mắt ra xa là biển. Thu mắt lại gần là hoa. Hoa núi cao, màu trắng với màu cam, đang đúng độ, lốm đốm dọc hai bên đường. Ở những đoạn không có cây cao, mấy đốm trắng ấy hiện lên rõ nhất. Trông như một cảnh trong bộ phim hoạt hình nào đó mình từng xem.

Đèo dài chừng hai lăm cây trên quốc lộ 334. Mười lăm cây cuối cùng thì tới đỉnh: 738 mét, nối Utoro với Rausu. Ngước sang là Rausu-dake, 1.661 mét. Tính ra chỗ mình đứng mới chỉ đến ngang hông ngọn núi.

Hôm nay nắng, và nhìn thấy núi. Mình bắt chuyện với một bác từ mạn tây tới, bác bảo ở đây mây nhiều hơn nắng, được ngày như hôm nay là may. May thế thì không thể không chụp. Và đương nhiên, bài học hồi sáng vẫn còn nóng: mình dắt xe vào khu dành riêng cho xe, chụp cho bạn ấy một tấm cho ra tấm.

国立公園、しかも世界自然遺産となれば、やはりちがう。

道は急だ。昨日、斉藤さんが言っていた。あの道はいいが、カブにはこたえるぞ、と。こたえた。ほとんど二速と三速で走った。二速は坂のためにとってある。ふだん使うことは、めったにない。今日はそれを、使いきった。

道は山の斜面をなぞり、脇には水が流れている。私は水の流れと呼ぶが、人はそれを川と呼ぶのだろう。いちばん急なところで、勾配は七・八パーセント。路面には、摩擦のための溝が刻んである。制限速度が三〇キロの区間もある。ちょうどいい。荷を積んだカブは、どう頑張っても四十がせいぜいだ。まるで、山の中腹をとことこ登る小さな車のために、あつらえた道のようだ。

十分ほど走ると、視界がひらけた。空が澄む。斜面の向こうは、もう大きな海だ。道ばたには、雪が白い塊になって残っている。テレビでは、母熊と子熊が、あの白い塊に沿って歩いてゆく映像をよく流す。それが、いま目の前にある。

この峠を行くのは、車と単車だけではない。歩く人もいる。強い日ざしでもないのに、上半身裸の、たくましい人たちが歩いている。熊よけの鈴を、だれも忘れない。ここは日本でいちばん熊の多い土地だ。登山道は先ごろ開いたばかりだが、熊に連れていかれた、という報せは、いまも絶えない。

こわい。だから途中では止まらない。ひとつには、熊がこわいから。もうひとつには、この先に、北海道へ来た者ならだれもが越えたい峠が、あるからだ。

遠くを見れば海。目を近くに戻せば、花。高い山の花だろう。白と、橙。ちょうど盛りで、道の両側に点々と散っている。高い木のない区間では、その白がいちばんよく見える。どこかで観た漫画映画の、一場面のようだ。

峠は国道三三四号の、二十五キロほど。最後の十五キロを登りきると、頂に出る。標高七三八メートル。ウトロと羅臼を結ぶ。仰げば羅臼岳、一六六一メートル。私の立っている場所は、あの山の腰のあたりにすぎない。

今日は晴れて、山が見えた。西のほうから来たという年配の人と話した。ここは晴れよりも雲のほうが多い、今日のような日に当たるのは運がいい、と言う。それだけの運なら、写真を撮らないわけにはいかない。そして当然、朝の教えは、まだ温かい。私は単車の置き場へカブを入れ、連れの写真を、ちゃんと撮ってやった。

06Đi hồ Ma Chu摩周湖へ

Đi sớm nên giữa trưa mình đã xuống tới chân núi bên kia. Cái hay là hai chân đèo đều có michi-no-eki. Mình ghé, ăn tạm bát mì rồi lên đường đi hồ Ma Chu (Mashuko). Còn gần trăm cây nữa, mà vùng này trông hoang, tới muộn không tìm ra chỗ nghỉ thì khốn.

Đường dài dễ buồn ngủ. Mình có mang theo mấy lon cà phê, nhưng cơ thể quen dần, mấy liều ấy không còn đủ đô. Mình tạt vào Seven Eleven bên đường, chắc là quãng giữa đường tới hồ. Mình nhớ ly cà phê đá đó, vì uống xong thì tỉnh hẳn, phóng một mạch tới tận cạnh hồ.

Kế hoạch ban đầu là về trại trước, còn thời gian thì mới ghé hồ. Nhưng không hiểu sao mình dừng lại và tính đi đường vòng. Chắc tại lúc ấy mới hơn ba giờ chiều. Hoặc là có ai đó chặn mình lại, ghé vào tai bảo: đi bây giờ đi.

Mình quay đầu xe, rẽ vào đường rừng.

Đường lạnh hơn. Lạnh thật đấy. Rồi dốc cứ cao dần. Hóa ra hồ nằm trên núi. Hồ sinh ra từ núi lửa, nên muốn ngắm hồ thì trước hết phải leo núi.

Dọc đường bắt đầu xuất hiện những mũi tên xanh da trời. Ở Nhật, mũi tên xanh hai bên mép đường là chỉ dẫn cho xe đạp. Mà chỗ nào xe đạp chạy thì chỗ ấy cảnh đẹp — cảnh đẹp công bằng với tất cả, không riêng ô tô, không riêng xe máy. Nên nếu vô tình đi trên cung đường có mấy vạch chỉ dẫn ấy, ắt hẳn ta đang đi tới một nơi đáng đến.

早く出たので、昼には反対側の山裾に降りていた。うまいことに、峠の両の裾に道の駅がある。寄って、蕎麦を一杯すませ、摩周湖へ向かう。まだ百キロ近い。このあたりは人けが薄く、遅く着けば、宿にありつけない。

長い道は、眠くなる。缶の珈琲をいくつか積んでいるが、体が慣れてしまって、もう効かない。道ばたのセブンイレブンに寄った。摩周湖までの、ちょうど半ばあたりだったと思う。あの冷たい珈琲のことは、よく覚えている。飲みほすと目が覚めて、湖のそばまで一息に走ったからだ。

はじめの心づもりでは、まず野営地へ行き、余りがあれば湖へ寄る、というものだった。それが、どういうわけか、私は止まって、遠まわりを考えた。まだ三時を回ったばかりだったからかもしれない。あるいは、だれかが私を引きとめて、耳もとで、いま行け、と言ったのかもしれない。

私はカブの向きを変え、森の道へ入った。

道が冷えてくる。ほんとうに冷たい。そして坂が、しだいに急になる。湖は、山の上にあるのだった。火山が生んだ湖だから、湖を見たければ、まず山を登らねばならない。

道の脇に、水色の矢印が現れはじめる。日本では、道の縁のあの矢印は、自転車のための印だ。そして自転車の走る道は、たいてい景色のいい道だ。美しい景色は、車にも単車にも自転車にも、歩く者にも、等しくひらかれている。だから、あの印の道に迷いこんだなら、たぶん、いい場所へ向かっている。

07Người bạn tên Ma Chu摩周湖という友

Hồ Ma Chu nhìn từ đài quan sát — nước xanh như ngọc bích展望台から見る摩周湖 ― 玉のような青

Mải nhìn bên phải. Xa xa là ngọn núi có vệt trắng dài và đang phun khói, bao quanh là rừng mênh mông. Chừng ấy đã đủ khiến người ta mê mẩn rồi, nhất là khi ngồi trên con cub lù gù bò theo sườn núi. Không nhanh đến mức phải vội. Không chậm đến mức thấy mình rùa bò. Tốc độ của cub vừa đúng kịp với cảm xúc của người cầm lái.

Bãi đậu xe hiện ra.

Thật ra suốt hành trình mình chẳng mấy khi tự chọn đường nào, ngắm cái gì. Chỉ đặt cho mình một điểm đến, rồi vừa đi vừa nghe bạn bè, nghe người đi trước chỉ điểm. Lần này là bác Yamada. Bác kể ngày xưa có bài Kiri no Mashuko — hồ Ma Chu trong sương — ý nói ở đây mây mù quanh năm. Đẹp mà kiêu. Như cô gái lúc nào cũng che mặt, một năm chỉ đôi dịp mới chịu vén khăn.

Mình tò mò. Và mình đã đi.

Điểm dừng đầu tiên là đài quan sát số ba. Mê mẩn với cánh rừng nhìn từ trên cao, chụp được mấy tấm, rồi mình mới băng qua đường để chính thức nhìn hồ.

Ôi.

Mình phải thốt lên rằng chưa bao giờ thấy cảnh nào như thế. Mặt hồ tĩnh lặng. Nước xanh như ngọc bích. Nếu chỉ được một góc thì đã không nói làm gì — đằng này tứ bề. Càng men vào ven hồ nước càng trong. Trên sườn đồi mấy cái cây mọc nghiêng nghiêng, tự nhiên mà cứ như có họa sĩ ngồi tô từng nét.

Có một bác năm nay bảy sáu tuổi, từ Sapporo lên. Bác bảo sáu mươi mốt năm rồi mới quay lại. Lần trước là năm mười lăm tuổi, đi du lịch cuối cấp hồi trung học. Cảnh ám vào đầu, đi đâu cũng nhớ, giờ muốn về nhìn thêm một lần nữa.

Mình cũng đã đi nhiều nơi. Nhưng chỗ làm người ta ngẩn ngơ thì mình nghĩ là Ma Chu. Không hiểu sao mấy hôm nay cái tên ấy cứ vẩn vương trong đầu. Trên đường lon ton với cub, miệng mình hát Kachiusa, mà đầu thì nghĩ tới Ma Chu.

Rồi mình vòng sang đài quan sát số một. Chỗ này mất phí gửi xe, nhưng nhìn được toàn cảnh. Ai đi mình nghĩ nên ngắm cả hai: đài một cho cái tổng thể, đài ba cho cái đủ sức hạ gục lữ khách.

Ở đài quan sát người ta kê một dải ghế dài, ai thong thả thì ngồi. Phía xa có một nhóm năm người nắm tay nhau, nói ra những lời đẹp. Họ nhắm mắt như đang cầu nguyện, chỉ khác là họ không ngại nói thành tiếng những điều người khác chỉ dám thầm mong. Mình nghe không hết, chỉ nghe được hai chữ hạnh phúc. Nhìn cách ăn mặc và thần thái, mình đoán các bạn ấy làm gì đó liên quan tới spiritual.

Trên hòn đá giữa sân, trong câu mô tả vẻ đẹp của hồ có chữ kami — thần. Mình khựng lại một chút.

Rồi mình cũng nhắm mắt. Cũng gửi đôi lời tới Ma Chu. Đương nhiên mình không phải người quen đi xin đi khấn, nên đây không phải inori gì cả, chỉ là mấy câu nói với một cảnh sắc đã làm mình say lòng. Chỉ khác là mình không nói thành lời, và cái tư thế vắt chân lên ghế thì cũng chẳng đẹp đẽ gì. Nhưng đó là cách mình vẫn ngồi trò chuyện với bạn bè.

Với mình, hồ Ma Chu là một người bạn.

Bước vào khu shop, mình dừng lại trước một viên đá xanh. Chuyến này mình đã tự hẹn là chỉ nhặt đá từ những ngọn núi cao nhất, túi đựng cũng mua sẵn rồi. Nhưng thôi, núi hồ Ma Chu là ngoại lệ. Bốn trăm bốn mươi yên cho một hòn đá màu xanh. Màu mình thích.

Và chị Hiroko, người vừa ngồi cầu nguyện ngoài kia, bước tới.

Câu chuyện diễn ra tự nhiên đến mức chẳng ai vội. Chọn xong hòn đá ưng ý, chị cầm lên tay, nhắm mắt, xoay xoay, rồi gửi lời nhắn vào trong đá. Nói rõ ràng, thành tiếng, không thì thầm.

Rồi chị bảo sắp tới chị sẽ ghé núi Yên Tử.

Yên Tử là ngọn núi gần nhà mình.

右手ばかりを見ていた。遠くに、長い白い筋を引いて、煙を上げている山がある。そのまわりを、果てのない森が取り巻いている。それだけでもう、人は見とれてしまうのだ。まして、山の斜面をのそのそと登ってゆくカブの上にいるのだから。急ぐほどには速くなく、のろいと感じるほどには遅くない。カブの速さは、乗っている者の心の動きに、ちょうど追いつく速さなのだと思う。

駐車場が見えた。

思えばこの旅で、私は自分から道を選んだり、何を見るかを決めたりしたことが、ほとんどない。行き先をひとつ決めて、あとは道々、友の言葉や、先に行った人の言葉に耳をかたむけるだけだ。今度は山田さんだった。むかし「霧の摩周湖」という歌があってね、と山田さんは言う。この湖は、年じゅう霧に隠れているのだよ、と。美しくて、そして気位が高い。いつも顔を隠している娘のようで、年に幾度かしか、その布をあげてはくれない。

私は見たくなった。そして、来た。

はじめに立ったのは、第三展望台だ。高みから見おろす森にすっかり心を奪われ、写真を何枚か撮って、それから道を渡り、ようやく湖に向きあった。

ああ。

こんな景色を見たことがない、と、思わず声が出てしまった。湖の面は動かない。水は青く、その青は玉のようだ。ひとところだけが美しいのなら、まだ言いようもある。ここは、どちらを向いても美しい。岸に寄るほど水は澄み、斜面には木が幾本か斜めに立っていて、まるで、だれかが筆を入れたかのようだった。

札幌から来たという、七十六になる人がいた。六十一年ぶりだ、と言う。前に来たのは十五のとき、中学の修学旅行だった。あの景色が頭から離れず、どこへ行っても思い出す。だからもう一度だけ見にきたのだ、と。

私もずいぶんいろいろな土地を歩いてきた。それでも、人をぼんやりとさせてしまう場所となると、やはり摩周だろうと思う。この幾日か、なぜかその名が頭を離れなかった。カブでとことこ走りながら、口はカチューシャを歌っているのに、頭は摩周のことを考えていた。

それから第一展望台へまわった。ここは駐車に金がいる。そのかわり、湖の全体が見わたせる。もし行くなら、両方を見るといい。第一には全体があり、第三には、旅の者を打ちのめすだけのものがある。

展望台には、長い椅子が据えてある。急がない者は、そこに腰かけて湖を見ればいい。少し離れたところで、五人ほどが手をつなぎ、美しい言葉を口にしていた。目を閉じて、祈っているように見える。ちがうのは、ほかの人なら胸のうちにしまっておくようなことを、彼らは声に出すのをためらわない、という点だ。全部は聞きとれなかった。ただ、しあわせ、という言葉だけが聞こえた。身なりと佇まいから、あの人たちはスピリチュアルにかかわる人たちなのだろうと思った。

広場の石には、湖の美しさを讃える文が刻まれていて、そのなかに「神」という字があった。私は、少し立ちどまった。

そして私も、目を閉じた。摩周に、いくつか言葉を送った。もちろん私は、願をかけることに慣れた人間ではない。だからこれは祈りではない。ただ、人の心を奪ってしまう景色に向かって、言葉をかけただけだ。ちがうのは、私が声に出さなかったことと、椅子に足を組んだ座り方が、あまり褒められたものではなかったこと。けれど、それが、私が友と語らうときの座り方なのだ。

私にとって、摩周湖は友だった。

売店に入って、青い石の前で足が止まった。この旅では、いちばん高い山の石だけを拾う、と決めていた。袋も買ってある。けれど、摩周の山だけは別にしよう、と思った。四百四十円。青い石。私の好きな色だ。

そこへ、さきほど湖の前で祈っていた、ひろ子さんがやってきた。

話は、だれも急がないほど、自然にはじまった。気に入った石を選ぶと、彼女はそれを手に取り、目を閉じ、くるくると回しながら、石のなかへ言葉を送った。はっきりとした声で。ささやきではなく。

そして彼女は、こんどベトナムのイエンツ山(安子山)へ行くのだ、と言った。

イエンツ山は、私の家のすぐ近くにある山だ。

08Đêm ngủ một mìnhひとりで眠る夜

Trại Mashu no Mori — một cái lều, hai ngọn đèn, và một ổ cắm trong nhà vệ sinh摩周の森 ― テントひとつ、灯りふたつ、手洗いのコンセントひとつ

Xuống núi, cảnh lại đổi. Trên hồ bắt đầu có mây phủ, kiểu như mây đội nón cho hồ. Còn phía rừng và dải núi trước mặt thì vẫn nắng nhẹ. Ngồi tưởng tượng một lúc thì thành ra hình một người đội nón: hồ là cái đầu, mây là cái nón, còn khoảng nắng ngoài kia là cõi thực.

Xe bon bon xuống đường thẳng. Mình đổ xăng, mai còn đi sớm.

Nhưng chỗ trọ thì tìm hoài không thấy. Quanh đó chỉ có một công viên trông hoang hoang. Lúc ấy khoảng năm giờ chiều, mây lan xuống nên trời nhá nhem sớm. Vòng đi vòng lại hai ba lượt mình mới tìm ra: nó nấp sau một hàng cây. Phía ngoài là quán ăn, camp lọt hẳn vào bên trong. Chủ quán kiêm luôn quản lý trại. Tên trại là Mashu no Mori.

Làm xong thủ tục, nhẹ cả người. Nhưng hóa ra hôm nay chỉ có mỗi mình. Không một ai cắm trại ở đây.

Mình chọn khoảng bê tông ở giữa, dựng lều. Đêm xuống, chỉ còn mấy ngọn đèn quanh trại. Mình phát hiện cái nhà vệ sinh có ổ cắm, bèn mang máy tính ra đấy sạc. Rồi về lều nằm.

Ở trại nào thì đêm xuống ai cũng phải một mình cả — dù xung quanh có mấy chục cái lều đi nữa. Vậy mà tối nay cảm giác nó cứ trống.

Cũng may có cuộc họp online với Bảo Vi, kohai trong dự án viết sách về thầy hiệu trưởng trường tiếng Nhật. Mải chuyện nên mình quên mất chuyện cái lều chỉ có một người.

Trước khi chìm vào giấc ngủ, ai cũng muốn có bạn bè quanh mình. Không cần làm gì. Chỉ cần ở đó.

Nhưng đêm nay, sau hồ Ma Chu, mình biết ở một mình cũng không đến nỗi buồn.

山を下ると、景色がまた変わっていた。湖の上に、雲がかかりはじめている。湖に笠をかぶせたような雲だ。手前の森と、その先の山なみには、まだ淡い日ざしが残っている。しばらく眺めているうちに、笠をかぶった人の姿に見えてきた。湖が頭で、雲が笠で、向こうの日の当たっているあたりが、現の世界なのだ。

まっすぐな下り道を、カブは軽やかに走る。明日も早いから、途中で給油した。

ところが、宿がどうしても見つからない。あたりには、うら寂しい公園があるばかりだ。五時ごろだったが、雲が下りてきて、暮れるのが早い。二度、三度と行き来して、ようやく見つけた。木立の裏に隠れていたのだ。表は食堂で、キャンプ場は、その奥にすっぽりと収まっている。食堂の主人が、そのまま管理人でもあった。摩周の森、という名の野営地だ。

手続きを終えて、ほっとする。ところが、今日はどうやら私ひとりらしい。ほかに、だれも泊まっていない。

私は真ん中のコンクリートの区画を選んで、テントを張った。夜がおりると、あたりには野営地の灯りが、いくつか残るだけになる。手洗いにコンセントがあるのを見つけて、そこへ持っていって、パソコンを充電した。それからテントに戻って、横になった。

どんな野営地でも、夜になれば、人はけっきょくひとりになる。まわりにテントが幾十あっても、それは変わらない。それなのに、今夜の感じは、どこか空いている。

さいわい、日本語学校の校長先生についての本を書く仕事で、後輩のバオ・ヴィとオンラインの打ち合わせがあった。話に夢中になって、テントに自分ひとりしかいないことを、しばらく忘れていた。

眠りに落ちるまえ、人はだれでも、まわりに友がいてほしいと願うものだ。何もしなくていい。ただ、そこにいてくれるだけでいい。

けれど今夜、摩周湖のあとでは、ひとりでいることも、そう悪くはないのだと分かった。

09 ・ Ghi bên lề — cho người đi sau09 ・ 道の余白に ― あとから行く人へ

Coin laundry. Chú ý thời gian máy quay và thời gian sấy. Sấy tối thiểu 30 phút, không chắc thì cứ để 60 phút cho yên tâm. Tốn thêm ít tiền, nhưng khâu xử lý phía sau nhẹ hơn rất nhiều. Đồ ẩm mang theo trên xe là một cực hình.

Michi-no-eki ở Hokkaido thường mở cửa từ khoảng 9 giờ. Nên chạy chừng 1–2 tiếng buổi sớm rồi ghé vào là vừa: đủ để làm ấm người bằng bát mì hoặc ly cà phê.

Đèo Shiretoko (quốc lộ 334). Dài khoảng 25 km, đỉnh 738 m, dốc tối đa 7,8%. Cub đi được, nhưng chuẩn bị tinh thần gài số 2. Kiểm tra live camera trên đỉnh trước khi xuất phát — dưới chân núi mù mịt không có nghĩa là trên đỉnh cũng vậy.

Hồ Mashu. Đài quan sát số 1 mất phí gửi xe nhưng nhìn toàn cảnh; đài số 3 miễn phí. Nên ghé cả hai.

コインランドリー。洗いの時間と、乾燥の時間に気をつけること。乾燥は最低三十分。心もとなければ六十分回してよい。少し高くつくが、あとの始末がずっと楽になる。湿った衣類を積んで走るのは、なかなかの責め苦だ。

北海道の道の駅。開くのは、おおむね九時ごろ。朝に一、二時間走ってから寄ると、ちょうどいい。温かい蕎麦か珈琲で、体が戻る。

知床峠(国道334号)。全長およそ二十五キロ、頂は七三八メートル、最大勾配七・八パーセント。カブでも登れる。ただし二速を覚悟すること。出発まえに頂上のライブカメラを確かめる。麓が霧でも、上まで霧とはかぎらない。

摩周湖。第一展望台は駐車が有料だが、湖の全体が見える。第三展望台は無料。どちらも見るとよい。

Hokkaido ・ Hành trình Super Cub
北海道 ・ スーパーカブの旅
Thợ Rèn ・ thorenbook.com

Đăng ký tài khoản

Bạn đã có tài khoản?

Bằng việc tạo tài khoản, bạn đồng ý với Điều khoản Sử dụngChính sách Bảo mật của chúng tôi.

Đăng nhập vào tài khoản